Alicia Vikander

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Alicia Vikander
Alicia Vikander 2015 Comic-Con 03.jpg
Vikander năm 2015
SinhAlicia Amanda Vikander
3 tháng 10, 1988 (31 tuổi)
Gothenburg, Thụy Điển
Nơi cư trúLondon, Anh, Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland
Quốc tịchThụy Điển
Học vấnTrường Balê Hoàng gia Thụy Điển
Nghề nghiệpDiễn viên, vũ công
Năm hoạt động2002 đến nay

Alicia Amanda Vikander (phát âm tiếng Thuỵ Điển: [aˈliːsɪa aˈmanda vɪˈkandər]; sinh ngày 03 tháng 10 năm 1988) là một nữ diễn viên và vũ công người Thụy Điển. Cô học tại Trường Balê Hoàng gia Thụy Điển. Cô bắt đầu sự nghiệp diễn xuất chuyên nghiệp của mình bằng khixuất hiện trong các bộ phim ngắn và phim truyền hình Thụy Điển và đặc biệt là trong vai Josefin Björn-Tegebrandt trong bộ phim truyền hình Andra Avenyn (2008-10).

Cô đã diễn xuất nổi bật lần đầu trong Pure (2010), bộ phim giúp cô giành được giải Guldbagge cho nữ diễn viên xuất sắc nhất. Tên tuổi của cô được biết đến rộng rãi hơn vào năm 2012 sau khi đảm nhận vai công chúa Ekaterina "Kitty" Alexandrovna Shcherbatskaya trong bộ phim Anna Karenina của Joe Wright được chuyển thể từ một tiểu thuyết cùng tên và vai Nữ hoàng Caroline Mathilde trong bộ phim Đan Mạch nổi tiếng A Royal Affair. Cô đã được đề cử giải thưởng BAFTA Rising Star Award cho sự đột phá của mình. Cô đã trở thành một ngôi sao vào năm 2013 qua sự xuất hiện trong bộ phim Thụy Điển Hotell và trong bộ phim tiểu sử The Fifth Estate của Julian Assange cùng năm đó.

Trong năm 2014 và 2015, Vikander đạt được biết đến rộng rãi trên toàn thế giới và nhận được khen ngợi cho vai diễn của cô trong vai nhà hoạt động Vera Brittain trong bộ phim Testament of Youth, vai AI trong phim Ex Machina, vai diễn mà cô đã được đề cử cho giải Quả cầu vànggiải BAFTA cho Nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất. Tháng 2 năm 2016, Alicia Vikander đã được trao giải Giải Oscar cho nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất ở ngay lần đầu tiên được đề cử Oscar và giải Giải SAG với vai diễn nữ họa sĩ Gerda trong phim Cô gái Đan Mạch.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Vikander được sinh tại Gothenburg,[1] cô là con gái của Maria (Fahl) Vikander, một nữ diễn viên kịch, và Svante Vikander, một bác sĩ tâm thần. Cha mẹ cô xuất thân từ những ngôi làng nhỏ ở phía bắc và phía nam của Thụy Điển.[2] Họ rời khỏi nhau khi Vikander mới được hai tháng tuổi[3][4][5] và cô đã được nuôi lớn bởi người mẹ độc thân của mình. Cô có năm anh chị em cùng cha khác mẹ.[6] Khi lớn lên, Vikander nói rằng cô nhận được sự yêu thương tốt nhất có thể từ hai phía. Là một đứa con độc nhất đối với mẹ cô nhưng cô lại được bao quanh bởi một gia đình lớn khi cô sống tại nhà cha mình mỗi hai tuần một.[7] Cô mang trong mình dòng máu Thụy Điển và có một phần tư Phần Lan.[2]

Vikander bắt đầu sự nghiệp của cô như một nữ diễn viên khi bảy tuổi, cô đảm nhận vai diễn chính trong nhạc kịch Kristina från Duvemåla tại Nhà hát Opera Göteborg, được viết bởi BjörnBenny của ABBA; cô tham gia trong đoàn kịch trong ba năm rưỡi. Cô xuất hiện trong nhiều vở nhạc kịch khác nhạu tại nhà hát như The Sound of MusicLes Misérables. Năm 1997, cô tham gia vào chương trình ca nhạc Småstjärnorna của kênh truyền hình TV4; cô biểu diễn ca khúc "Du måste finnas" của Helen Sjöholms. Cô đã giành tập của mình với lời khen ngợi của ban giám khảo cho sự hiện diện sân khấu của cô.[8]

Vikander tập luyện ballet từ lúc chín tuổi với Svenska Balettskolan i Göteborg (1998-2004). Ở tuổi 15, Vikander chuyển từ Göteborg lên Stockholm để được đào tạo tại trường ballet trên. Tại đây, cô sống một mình, làm việc để trở thành một vũ công chính. Cô đi khắp thế giới nhằm tham gia các khóa học hè, cô từng có một khóa học hè tại Trường Ballet Mỹ tại thành phố New York.[9] Ở tuổi 16, cô gần như đã bỏ học để tham gia vào bộ phim truyền hình của đạo diễn Tomas Alfredson.[9] Qua đó, cô đã nhận ra niềm đam mê diễn xuất của mình. Sự nghiệp khiêu vũ của cô đã bị cô cho ra ngoài lề sau những chấn thương ở tuổi thiếu niên của mình.[10] Cô từng thử giọng cho trường kịch nghệ nhưng bị từ chối hai lần.[11] Tại một thời điểm, Vikander được nhận vào trường luật nhưng cô không bao giờ tham dự, nhằm theo đuổi giấc mơ trở thành một diễn viên của mình.[12]

Đời tư[sửa | sửa mã nguồn]

Vikander năm 2013

Vikander sống tại London.[13][14] Từ năm 2014, cô hẹn họ với nam diễn viên Michael Fassbender.[5]

Sự nghiệp điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Phim
NSX Tên Vai diễn Ghi chú
2006 Standing Outside Doors Alicia Phim ngắn
2007 Darkness of Truth Sandra Svensson Phim ngắn
2007 The Rain Vũ công Phim ngắn
2008 My Name is Love Fredrika Phim ngắn
2009 Susans längtan Cô gái trong căn hộ Phim ngắn
2010 Pure Katarina
2011 Jeu de chiennes Cô gái Thụy Điển Phim ngắn
2011 Kronjuvelerna Fragancia Fernandez
2012 A Royal Affair Caroline Mathilde
2012 Anna Karenina Kitty
2013 Hotell Erika
2013 The Fifth Estate Anke Domscheit-Berg
2014 Testament of Youth Vera Brittain
2014 Son of a Gun Tasha
2014 Đứa con thứ 7 Alice Deane
2015 Ex Machina Ava
2015 Ingrid Bergman: In Her Own Words Narrator Phim tài liệu
2015 Tổ chức bóng đêm U.N.C.L.E. Gaby Teller
2015 Burnt Anne Marie
2015 Cô gái Đan Mạch Gerda Wegener
2016 Tulip Fever Sophia
2016 Jason Bourne Post-production
2016 The Light Between Oceans Isabel Sherbourne Post-production
2017 Submergence Danielle Flinders Filming
2017 Tomb Raider Lara Croft Pre-production
Phim truyền hình
Năm Tên Vai diễn Ghi chú
2002 Min balsamerade mor Ebba Du Rietz Phim
2005 En decemberdröm Tony 3 tập
2007 Levande föda Linda Miniseries
2007–08 Andra Avenyn Jossan Tegebrandt Björn 39 tập
2008 Höök Katarina 2 tập

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Lawrence, Vanessa (tháng 12 năm 2011). “Alicia Vikander”. W (Condé Nast): 71. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2013. 
  2. ^ a ă Stated on Conan, ngày 5 tháng 5 năm 2015, can be viewed here, https://www.youtube.com/watch?v=gCD7aEBOQwE, starting at 26:42
  3. ^ MacNab, Geoffrey (ngày 15 tháng 9 năm 2012). “Alicia Vikander – Make room for a new Swedish sensation”. The Independent. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2013. 
  4. ^ “LĂśrdagsintervjun: ELLE mĂśter Alicia Vikander | ELLE”. Elle.se. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2014. 
  5. ^ a ă Rob Haskell (ngày 14 tháng 12 năm 2015). “Alicia Vikander: The Danish Girl Star Jumps Out of a Plane and Talks Overnight Fame”. Vogue. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2015. 
  6. ^ “Golden Girl: Alicia Vikander | Film, Fashion”. Hunger TV. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2014. 
  7. ^ Dehn, Georgia (ngày 11 tháng 2 năm 2015). “Why Alicia Vikander is the actress to watch in 2015”. The Daily Telegraph. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2015. 
  8. ^ Josefine Gustafsson (ngày 29 tháng 2 năm 2016). “Alicia Vikander: Från ”Småstjärnorna” till Oscarsvinnare”. Ystads Allehanda. Truy cập ngày 29 tháng 2 năm 2016. 
  9. ^ a ă Horowitz, Josh. “Happy Sad Confused- Alicia Vikander”. SoundCloud. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2015. 
  10. ^ Dehn, Georgia (ngày 3 tháng 1 năm 2015). “Why Alicia Vikander could be the actress to watch in 2015”. The Daily Telegraph. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2015. 
  11. ^ Shattuck, Kathryn (ngày 29 tháng 5 năm 2015). “Alicia Vikander, Who Portrayed Denmark’s Queen, Is Screen Royalty”. The New York Times. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2015. 
  12. ^ “DP/30: Alicia Vikander, actor, A Royal Affair/Anna Karenina”. YouTube. Ngày 30 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2015. 
  13. ^ “Alicia Vikander: The North Star”. W Magazine. Ngày 16 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2015. 
  14. ^ “Alicia Vikander won't live in America”. Expose.ie. Ngày 16 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2016. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]