Những cuộc thanh trừng của Stalin

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Jump to navigation Jump to search

Những cuộc thanh trừng của Stalin (tiếng Nga: Чистка, Чистки (Pl.), Tschistka, Tschistki) là cụm từ chỉ khoảng thời gian trong lịch sử Liên Xô, khi Josef Stalin nắm quyền lực, lúc mà đã xảy ra rất nhiều việc trù dập và giết hại những người, mà theo cái nhìn của Stalin, về chính trị không thể tin cậy được và những thành phần đối lập. Tổng số nạn nhân trong thời gian này không được biết chắc, và cũng khó mà kiểm tra được, theo ủy ban Schatunowskaja, điều tra theo ủy quyền của Nikita Chruschtschow, dưới hầm của cơ quan KGB (cơ quan thay thế NKVD): Từ 1 tháng 1 năm 1935 cho tới tháng 7 năm 1940 mật thám của Stalin đã cho bắt 19 840 000 dân Xô Viết; 7 triệu trong số đó, hơn 1/3, đã chết trong các trại lao động, nhà tù.[1]

Ngay từ trong thập niên 1920 Stalin đã bắt đầu loại trừ những đối thủ hoặc những người ông cho là đối thủ chính trị của mình ra khỏi đảng Cộng sản Liên Xô. Sau đó các nạn nhân thường bị chụp mũ với những cáo trạng giả tạo để xử họ qua những vụ án chỉ để tác động dư luận quần chúng, hay xử ngầm, bị xử tử, nhốt tù hay tù lao động trong các trại tù Gulag.[2]

Trong cái gọi là cuộc khủng bố vĩ đại (đại khủng bố) từ 1936 tới 1938, cũng còn được gọi là cuộc đại thanh trừng là đỉnh cao của các cuộc thanh trừng chính trị: trong khoảng thời gian này mỗi ngày có tới 1.000 người bị giết chết. Với sự mất mát của ban lãnh đạo, những chức năng căn bản của Đảng, hành chính và quân đội cũng bị ảnh hưởng nặng nề. Nhiều nơi toàn bộ các cán bộ Đảng đã bị bắt. Vì vậy năm 1938 cường độ của các việc trù dập theo lệnh của Stalin đã giảm đi nhiều nhưng cũng không ngưng hẳn.[cần dẫn nguồn]

Một làn sóng thanh trừng thứ hai bắt đầu vào đầu năm 1948. Chủ yếu nó nhắm vào những người Do thái. Phong trào này ban đầu giải tán Ủy ban Do thái chống Phát xít, đạt được đỉnh cao trong vụ âm mưu các bác sĩ do thái (một số các bác sĩ Do thái nổi tiếng ở Moskva bị buộc tội âm mưu ám sát các lãnh tụ Cộng sản) và chấm dứt bất thình lình với cái chết của Stalin vào tháng 3 năm 1953. Các nghiên cứu thường đưa ra những giải thích khác nhau gây nhiều tranh cãi về những lý do bên trong và mục đích của việc thanh trừng chính trị tập thể này.[cần dẫn nguồn]

Bối cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Tù nhân lao động trong các trại tập trung Gulag

Khủng bố đỏ[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: khủng bố Đỏ

Ngay từ lúc đầu của cuộc cách mạng Nga, trấn áp những kẻ có quan điểm chống đối (Bạch Vệ) là một công cụ của những người Bolshevik để giữ vững quyền lực. Trotzki 1918 đã dùng lực lượng dân quân của Hồng quân để chống lại những thành phần chống đối bên trong nước Nga. Với nhu cầu ổn định tình hình đất nước trong sự hỗn loạn của Nội chiến Nga, Với sắc lệnh "Về cuộc khủng bố đỏ" vào ngày 5 tháng 9 năm 1918, Lenin đã đề nghị sử dụng những biện pháp trấn áp có hệ thống chống lại kẻ thù giai cấp và áp dụng luật lệ riêng biệt cho cảnh sát mật Liên Xô:[3][nguồn không đáng tin?]

" Trong tình trạng hiện tại thì thật là cần thiết là phải yểm trợ nhóm Tscheka..., phải cô lập những kẻ thù giai cấp trong những trại tập trung để mà bảo vệ chế độ Cộng hòa, bất cứ ai mà dính líu tới các âm mưu, các cuộc nổi dậy phải bị bắn chết ngay tại chỗ." Từ đó, nhóm Tscheka trở thành một nước trong một nước, một bộ phận quyền lực, thi hành những biện pháp trấn áp theo một quy trình khá rõ ràng.

Ngay dưới thời Lenin, các trại tập trung, trại trừng phạt đã được thiết lập, những thành phần bị kết án phản Cách mạng bị trù dập, bỏ tù, tra tấn hoặc xử tử.[3] Đối với những người Bolschewiki, kẻ thù là bất cứ những ai cản trở con đường đi tới chế độ chuyên chính vô sản của họ, những người mà không ủng hộ quan điểm của Xô Viết, hay không theo sát ý thức hệ cộng sản chính thức. Kẻ thù đó là những người bất đồng chính kiến, những người có của, linh mục, người theo đạo và phe đối lập. Theo cái nhìn của người Xô Viết những kẻ thù đó như là mụn nhọt trong cơ thể cần được cắt bỏ.[3][nguồn không đáng tin?]

Lenin là người mà đã chính thức hóa việc sử dụng quyền lực một cách chuyên chế. Ban đầu ông ta coi trọng Stalin, bở vì ông ta cần một người, để mà thi hành những công việc, mà những người khác không muốn làm bẩn tay mình. Tuy nhiên khác với Stalin, theo Lenin bạo lực chống lại những người cùng phe là một điều cấm kỵ. Thanh trừng tiếng Nga: "Tschistka" theo Lenin là một biện pháp, để cho những đồng chí không tin cậy được trở lại đúng con đường mà đảng hoạch định. Những thành phần này phải tự kiểm điểm công cộng và trong trường hợp còn nghi vấn sẽ bị khai trừ ra khỏi đảng.[3][nguồn không đáng tin?]

Stalin đã biến bộ máy cảnh sát mật thành một bộ máy tiêu diệt. Thanh trừng không còn có nghĩa là khai trừ khỏi chức vụ mà là tiêu diệt, và chỉ có ông là người quyết định và ra lệnh, ai là bạn và ai là thù, ai là kẻ phản bội bị bắt và bị xử tử, ai được phép sống còn.[3][nguồn không đáng tin?]

Bối cảnh của những cuộc thanh trừng của Stalin là những thuyết âm mưu nối tiếp nhau, một số để đối phó với nhóm Trotzkisten. Bên cạnh phần lớn những người thành lập đệ Tam Quốc tế hầu như tất cả các lý thuyết gia của đảng Cộng sản Liên Xô là nạn nhân của các cuộc thanh trừng này. Vị kiểm sát tối cao các phiên tòa ở Moskva từ 1936 tới 1938 là Andrei Wyschinski[cần dẫn nguồn].

Ngoài ra phần lớn các lãnh đạo quân đội chung quanh thống chế Michail Tuchatschewski bị buộc tội có âm mưu chống Đảng và bị sát hại. Nhiều người cộng sản có nguồn gốc ở nơi khác, di cư sang Liên Xô cũng trở thành nạn nhân. Năm 1940 chính người có trách nhiệm lớn trong việc thi hành các cuộc thanh trừng Nikolai Jeschow, mà từ 1936 tới 1938 bộ trưởng Bộ Nội vụ và ứng cử viên Bộ chính trị, cũng như người tiền nhiệm của ông Genrich Jagoda trở thành nạn nhân cuộc khủng bố Stalin. Thay thế ông vào ngày 24 tháng 11 năm 1938 là Lawrenti Beria, đã cùng với Iwan Serow tiếp tục các cuộc thanh trừng. Beria bị xử tử 1953.[4]

Những tuyên truyền của Stalin, mà thường cũng được tiếp tục loan truyền từ các đảng Cộng sản ở các nước khác, cho là các cuộc thanh trừng là để ngăn ngừa các đối thủ chính trị không bắt tay với Đức quốc xã, với Nhật Bản, với Ba Lan, với Phần Lan, hay với các thành phần thù nghịch khác. Một số tội ác của Stalin 1956, 3 năm sau cái chết của Stalin, trong đại hội đảng Cộng sản Liên Xô lần thứ XX được tiết lộ và lên án. Một số nạn nhân được phục hồi nhân phẩm.[cần dẫn nguồn]

Nạn nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Stalin không những chỉ cho trừng phạt những người mà ông cho là đối thủ chính trị, trong đó có nhiều người cộng sản ngoại quốc mà sống ở Liên Xô hay vì bị truy đuổi phải tị nạn ở đó, ngoài ra còn cả những dân tộc thiểu số ở Liên Xô bị đưa vào trại lao động (Gulag) do có hành động chống Nhà nước Xô viết. Ngay cả những chủ điền hay những người bị xếp vào hạng này, các linh mục, thầy tu và giáo dân cũng trở thành nạn nhân của các cuộc thanh trừng. Những người thân nhân cũng không được để yên thân. Rất thường là những người không dính liếu gì đến chính trị cũng bị bắt, để cho đủ số người dự định, để làm đầy các trại tù và các trại lao động[cần dẫn nguồn]. Ngay cả người dân của các vùng mà bị Hồng quân chiếm đóng, cũng trở thành nạn nhân như người Baltic, Ba Lan, Hungary, Romania, Đức như vụ thảm sát Katyn với sự đồng ý của Stalin trên 20 ngàn tù binh người Ba Lan đã bị hành quyết.[5]

Trại cải tạo lao động của Liên Xô[sửa | sửa mã nguồn]

Nhiều phạm nhân sau khi bị kết tội bị đưa vào trại Gulag, nơi mà họ với những điều kiện sống khắc nghiệt ở những vùng rừng núi xa xôi, phải phá rừng, làm đường, đào sống rạch, làm đường sắt, xây nhà cửa, những công việc ở hầm mỏ. Thí dụ như kinh đào White Sea–Baltic, những phần của tuyến Đường sắt xuyên Sibir cũng như tuyến đường sắt Baikal-Amur-Magistrale do các tù nhân xây. Điều kiện sống và làm việc rất thấp. Nhiều khi họ chỉ nhận được 300 gr bánh mì đen ẩm và một tô canh, vào mùa đông họ cũng chỉ được cho mặc quần áo mùa hè và phải sống trong các dãy nhà bằng gỗ. Mỗi ngày họ thường phải làm trên 12 tiếng. Có những phạm nhân bị tra tấn hoặc bị xử tử do vi phạm nội quy của trại hoặc tìm cách bỏ trốn.[cần dẫn nguồn]

Số nạn nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Con số nạn nhân mà đã chết trong các cuộc thanh trừng, luôn gây nhiều tranh cãi. Trước đây các nhà sử gia chỉ có thể phỏng đoán, có ước tính cho rằng số nạn nhân chết là đến 60 triệu người[6] weit auseinander, je nachdem, wer sie zählte und was als Säuberungen galt.[7]

Từ khi chế độ Liên Xô sụp đổ, người ta có thể tính toán con số chính xác bằng cách truy tầm tài liệu từ các cơ quan lưu trữ. Theo đó khoảng 800.000 tù nhân dưới thời Stalin đã bị xử bắn, 1,7 triệu phạm nhân chết trong khi bị giam ở các trại Gulag, ngoài ra 389.000 người đã chết khi di chuyển sang nơi khác sống – tổng cộng khoảng 2,8 triệu người chết do mọi nguyên nhân.[cần dẫn nguồn]

Một số nạn nhân nổi tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

Theo chủ tịch hội đồng quốc gia Áo Ts. Heinz Fischer, qua nhiều năm nghiên cứu tại văn khố Nga, trong số 7 người trong bộ chính trị của Lenin, chỉ có Stalin thoát khỏi tòa án "Tschistka". Trong số 19 thành viên của bộ chính trị 1934, năm 1938 chỉ có bảy người còn tại chức, từ 139 thành viên ủy ban trung ương 1934, chỉ có 41 người sau năm 1941 vẫn chưa chết hoặc bị bắt giam.[8]

  • 13 thành viên cũ của bộ chính trị đảng Cộng sản Liên Xô:
Bubnov:là một trong 7 thành viên bộ chính trị năm 1918, bị bắt vào tháng 10 và trục xuất khỏi ủy ban trung ương đảng vào tháng 11 năm 1937, bị kết án tử hình ngày 1 tháng 8 năm 1938 và bị bắn chết cùng ngày. Bubnov được phục hồi nhân phẩm vào năm 1958.[9]
Bukharin: từ 1917 thành viên ủy ban trung ương, từ 1917 đến 1929 chủ nhiệm báo Đảng Sự thật, từ 1920 thành viện bộ chính trị, 1929 bị trục xuất khỏi bộ chính trị vì chống lại chính sách tập thể hóa nông nghiệp của Stalin, 1937 bị bắt vì tội làm gián điệp và âm mưu lật đổ Stalin, 1938 bị tử hình.[10]
Kamenev:từ 1917 đến 1926 thành viên ủy ban trung ương, và từ 1919 tới 1926 trong bộ chính trị, cùng với Sinowjew và Stalin lập thành bộ 3 cô lập Trotzky. Vì phản đối việc sùng bá lãnh tụ Stalin, bị mất ghế bộ chính trị và cuối năm 1927 bị đuổi ra khỏi đảng. 1936 bị bắt và bị xử tử.[11]
Kossior: 1925-28 bí thư ủy ban trung ương, 1930-38 thành viên bộ chính trị, mặc dù là người thâm cận của Stalin, nhưng vì bị vu khống từ Kiev, vẫn bị xử tử năm 1938, 1956 được Chruschtschow phục hồi nhân phẩm.[12]

Krestinski, Rudsutak, Rykow, Serebrjakow, Sokolnikow, Sinowjew, Tomski, Trotzki (bị ám sát ở Mexico), Tschubar và 3 ứng cử viên bộ chính trị (Eiche, JeschowPostyschew)

Giải thích[sửa | sửa mã nguồn]

Việc gì dẫn tới những cuộc thanh trừng của Stalin và nó đóng vai trò nào trong hệ thống quyền lực của chủ nghĩa Stalin, là một đề tài gây nhiều tranh cãi giữa các nhà nghiên cứu. Một số, như Oleg Gordievsky và Christopher Andrew, cho là Stalin quá tin vào những thuyết âm mưu khiến ông bị mắc bệnh hoang tưởng.[14]

Dimitri Wolkogonow thì không tin, Stalin thực sự muốn chống lại những âm mưu phe của Trotzky và những người nằm vùng cho chủ nghĩa tư bản, mà cho là các cuộc thanh trừng là những tính toán duy lý để bảo vệ chế độ và giữ vững quyền lực của mình.

Wolkogonow còn kể thêm một vấn đề có liên quan tới bối cảnh các cuộc thanh trừng: Cuộc sản xuất kỹ nghệ tuy đã phát triển, trên báo chí khắp mọi nơi đã báo cáo những thành công. Thực tế là có thể thấy được sự thiếu hụt, phẩm lượng của hàng hóa sản xuất kém, tiêu chuẩn kỹ thuật thấp. Khoảng cách giữa thực tế và tuyên truyền trên báo chí ngày càng lớn hơn. Để có thể hoàn tất được tiêu chuẩn đưa ra, thì phải tận dụng tối đa những máy móc mà thường bị chăm sóc kém cũng như tăng thêm thật nhiều sức lao động. Nó đưa tới nhiều tại nạn và hư hỏng máy móc. Báo chí cho đó là có phá hoại, mà tội phá hoại tài sản công được coi là một tội nặng. Từ đó bỗng nhiên là khắp mọi nơi xuất hiện những kẻ phá hoại, và kẻ thù của nhân dân.[cần dẫn nguồn]

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

  • Wolfgang Leonhard: Die Revolution entläßt ihre Kinder. Kiepenheuer & Witsch, Köln u. a. 1955, (16. Auflage: ebda. 1996, ISBN 3-462-01463-3, (KiWi 119)).
  • Heinz-Dietrich Löwe: Stalin. Der entfesselte Revolutionär. 2 Bände. Muster-Schmidt, Göttingen u. a. 2002, ISBN 3-7881-0153-9, (Persönlichkeit und Geschichte 162).
  • Reinhard Müller: „Wir kommen alle dran“. Säuberungen“ unter den deutschen Politemigranten in der Sowjetunion (1934–1938). In: Hermann Weber, Ulrich Mählert (Hrsg.): Terror. Innerkommunistische „Säuberungen“ vor und nach dem 2. Weltkrieg, Paderborn 1998, S. 121–166. ISBN 3-506-75336-3.
  • Reinhard Müller: Der Fall des Antikomintern-Blocks- ein vierter Moskauer Schauprozeß? in: Jahrbuch für Historische Kommunismusforschung, Jg. 4, 1996, S. 187–214.
  • Theo Pirker (Hrsg.): Die Moskauer Schauprozesse 1936–1938. Deutscher Taschenbuch Verlag, München 1963.
  • Wadim S. Rogowin: Die Partei der Hingerichteten. Arbeiterpresse Verlag, Essen 1999, ISBN 3-88634-072-4, (Gab es eine Alternative? 5).
  • Wadim S. Rogowin: 1937. Jahr des Terrors. Arbeiterpresse, Essen 1998, ISBN 3-88634-071-6.
  • Rudolph J. Rummel: „Demozid“ – Der befohlene Tod. Massenmorde im 20. Jahrhundert. Mit einem Vorw. von Yehuda Bauer. Lit Verlag, Münster [u. a.] 2003, ISBN 3-8258-3469-7, (Wissenschaftliche Paperbacks 12).
  • Hans Schafranek: Kontingentierte „Volksfeinde“ und „Agenturarbeit“. Verfolgungsmechanismen der stalinistischen Geheimpolizei NKWD am Beispiel der fiktiven „Hitler-Jugend“ in Moskau (1938) und der „antisowjetischen Gruppe von Kindern repressierter Eltern“ (1940). In: Internationale wissenschaftliche Korrespondenz zur Geschichte der deutschen Arbeiterbewegung 1, 2001, ZDB-ID 3256-6, S. 1–76.
  • Schauprozesse unter Stalin. 1932–1952. Zustandekommen, Hintergründe, Opfer. Mit einem Vorwort von Horst Schützler. Dietz Verlag, Berlin 1990, ISBN 3-320-01600-8.
  • Hermann Weber: „Weiße Flecken“ in der Geschichte. Die KPD-Opfer der Stalinschen Säuberungen und ihre Rehabilitierung. 2. überarbeitete und erweiterte Auflage. isp-Verlag, Frankfurt am Main 1990, ISBN 3-88332-176-1.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ DER GROSSE TERROR, Ấn bản lịch sử đặc biệt của tuần báo Spiegel 4/2007 về Experiment Kommunismus, die Russische Revolution und Ihre Erben (Thí nghiệm Cộng sản, cách mạng Nga và những di sản của nó)
  2. ^ Horst Schützler, Vorwort, in: Schauprozesse unter Stalin 1932–1952. Zustandekommen, Hintergründe, Opfer, Dietz, Berlin 1990, S. 8 f.
  3. ^ a ă â b c Der große Terror, Gregor Delvaux de Fenffe, planet-wissen, 27.08.2013
  4. ^ “Citizen Kurchatov Stalin's Bomb Maker”. PBS (documentary). Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2007. 
  5. ^ Kużniar-Plota, Małgorzata (ngày 30 tháng 11 năm 2004). “Decision to commence investigation into Katyn Massacre”. Departmental Commission for the Prosecution of Crimes against the Polish Nation. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2011. 
  6. ^ Alexander Solschenizyn: Der Archipel GULAG. Scherz, Bern 1974, ISBN 3-502-21001-2.
  7. ^ Source List and Detailed Death Tolls for the Primary Megadeaths of the Twentieth Century.
  8. ^ Fischer präsentiert Forschungen über Österreicher in der UdSSR, Quốc hội Áo, Tài liệu quốc hội Nr. 132 ngày 03.03.1997
  9. ^ “Guide to the history of the Communist Party and the Soviet Union”. Knowbysight.info. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2013. 
  10. ^ “Bucharin, Nikolaj Ivanovič”. Das Bundesarchiv. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2015. 
  11. ^ “Protokolle des Schauprozesses gegen Kamenew 1936”. stalinwerke. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2015. 
  12. ^ “Russische Biografie mit Foto”. 
  13. ^ a ă â b c d Voyenno-istoricheskiy zhurnal số tháng 3/1989.
  14. ^ Oleg Gordievsky, Christophe Andrew: KGB: The Inside Story. Hodder & Stoughton, 1990, S. 114
    ähnlich auch Daniel Pipes, Verschwörung. Faszination und Macht des Geheimen. Gerling Akademie, München 1998, S. 166 u. ö.