Phiên Satsuma

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Các samurai của gia tộc Satsuma, chiến đấu trong hàng ngũ quân triều đình trong suốt chiến tranh Boshin.

Phiên Satsuma (Nhật: 薩摩藩 (Tát Ma phiên) Satsuma-han?) là một trong những phiên mạnh nhất thời kỳ Tokugawa trong lịch sử Nhật Bản, và đóng một vai trò quan trọng trong cuộc Minh Trị Duy Tân và trong chính phủ của thời Minh Trị sau đó. Trong cuộc chiến tranh Mậu Thìn, bất chấp vụ bắn phá Kagoshima, phiên Satsuma trở nên thân thiết với nước Anh hơn và theo đuổi việc hiện đại hóa lục quân và hải quân nhờ sự trợ giúp của họ[1]. Nhà buôn người ScotlandThomas Blake Glover bán một số lượng lớn tàu chiến và súng ống cho các tỉnh miền Nam[2]. Các chuyên gia quân sự Anh và Hoa Kỳ, thường là các cựu sĩ quan, có thể đã trực tiếp tham gia các trận đánh[3]. Đại sứ Anh Harry Smith Parkes ủng hộ quân đội chống Shōgun trong nỗ lực lập nên một Đế triều hợp pháp và thống nhất Nhật Bản, và để chống lại ảnh hưởng của người Pháp với Mạc phủ. Trong thời kỳ đó, các lãnh đạo phía Nam Nhật Bản như Saigō Takamori ở Satsuma, hay Itō HirobumiInoue Kaoru ở Chōshū luôn chú tâm đến quan hệ cá nhân với các nhà ngoại giao Anh, đáng chú ý có Ernest Mason Satow[4]. Sau chiến thắng, chính quyền mới bắt đầu bằng việc thống nhất đất nước dưới một quyền lực duy nhất, hợp pháp và vững mạnh của triều đình. Hoàng cung được chuyển từ Kyoto đến Tōkyō cuối năm 1868. Quyền lực chính trị và quân sự của các phiên (han) bị bãi bỏ hoàn toàn, và các phiên sớm được đổi thành các tỉnh, với thống đốc được Thiên hoàng bổ nhiệm. Một cải cách lớn là việc hủy bỏ và truất hữu có hiệu quả tầng lớp samurai, cho phép rất nhiều các samurai chuyển sang các vị trí hành chính hay kinh doanh, nhưng đẩy rất nhiều người khác vào cảnh nghèo khó.[5] Các phiên phía Nam như Satsuma, Chōshū và Tosa, vốn giữ vai trò quyết định trong chiến thắng, chiếm giữ hầu hết các vị trí trọng yếu trong triều vài thập kỷ sau cuộc chiến, một tình thế đôi khi được gọi là "Chính thể đầu sỏ thời Minh Trị" và được chính thức hóa bằng việc thành lập Viện nguyên lão (genrō).[6]

Tên gọi chính thức là Kagoshima han, các Daimyo gia tộc Shimazu cai trị phiên này từ lâu đài Kagoshima tại thành phố Kagoshima. Trong thời đỉnh cao, họ nắm giữ 770,000 koku, chỉ thua mỗi phiên Kaga.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Hagiwara, trang 34–5
  2. ^ Cho đến đầu năm 1865, Thomas Blake Glover bán 7.500 khẩu Minié rifle cho phiên Chōshū, cho phép họ có thể hiện đại hóa toàn bộ quân đội. Nakaoka Shintaro vài tháng sau bình luận rằng "theo mọi cách quân đội của các phiên đã được cải tổ; chỉ các đại đội súng trường và đại bác mới được tồn tại, ngoài ra còn có súng trường Minies, khóa nòng đại bác có giáp bảo vệ" (Brown)
  3. ^ Đây là lời khẳng định của Jules Brunet trong một bức thư cho Hoàng đế Napoléon III của Pháp: "Tôi phải lưu ý Hoàng đế về sự hiện diện của rất nhiều sĩ quan Anh Mỹ, đã nghỉ hưu hay vẫn tại nhiệm, trong đội quân [của các daimyō phía Nam] vốn đối nghịch với các lợi ích của người Pháp. Sự hiện diện của các chỉ huy Tây phương trong hàng ngũ quân thù về khía cạnh chính trị có thể gây nguy hiểm đối với thắng lợi của tôi, nhưng không ai có thể ngăn cản thần báo cáo từ chiến dịch này thông tin cho Hoàng thượng một cách không nề hà." Trích dẫn gốc (tiếng Pháp): "Je dois signaler à l'Empereur la présence de nombreux officers américains et anglais, hors cadre et en congé, dans ce parti hostile aux intérêts français. La présence de ces chefs occidentaux chez nos adversaires peut m'empêcher peut-être de réussir au point de vue politique, mais nul ne pourra m'empêcher de rapporter de cette campagne des renseignements que Votre Majesté trouvera sans doute intéressants." Polak, trang 81. Ví dụ, Thiếu úy Horse được cho rằng là người huấn luyện sử dụng súng cho phiên Saga dưới thời Mạc mạt ("Togo Heiachiro", 17)
  4. ^ Những cuộc gặp gỡ này được thể hiện trong cuốn sách năm 1869 của Satow A Diplomat in Japan, nơi ông miêu tả Saigō là người có "đôi mắt tỏa rạng như một viên kim cương đen"
  5. ^ Phần lớn các sự phân biệt hợp pháp giữa tầng lớp samurai và các tầng lớp thường dân khác sớm bị dỡ bỏ, và lượng gạo truyền thống vẫn trả cho các samurai ban đầu được chuyển thành lương bằng tiền, rồi sau đó thành trái phiếu triều đình (Gordon, trang 64–65).
  6. ^ ví dụ như Saigō Takamori, Okubo Toshimichi, và Tōgō Heihachirō đều đến từ phiên Satsuma. Trích từ Togo Heihachiro in images: Illustrated Meiji Navy