Pyraminx

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Pyraminx hay Rubik Kim tự thápRubik có dạng tứ diện đều được phát triển bởi nhà phát minh Uwe Meffert từ năm 1981.

Cấu tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Cấu tạo của khối gồm 4 khối đỉnh có thể xoay độc lập với nhau, 6 khối cạnh và 4 khối cầu nối đỉnh và cạnh. Những khối cầu nối này đều có dạng bát diện đều và có 3 mặt lộ ra ngoài. Chúng kết nối với nhau tạo nên một khung cố định tại tâm của cả khối.

Biến thể[sửa | sửa mã nguồn]

Tetraminx hoàn chỉnh

Do 4 khối đỉnh của Pyraminx có thể xoay biệt lập nên sau khi phát minh Pyraminx, Meffert đã phát triển thêm một biến thể khác. Đó là Tetraminx hay Rubik tứ diện khuyết đỉnh.

Số hoán vị[sửa | sửa mã nguồn]

Mỗi khối đỉnh của Pyraminx có thể xoay độc lập theo 3 hướng tùy ý nên 4 khối đỉnh tạo 34 hoán vị.

Các khối cạnh tạo ra 6!/2 hoán vị và tạo ra 25 hướng. Còn 4 khối cầu nối tạo ra 34 hoán vị nên tổng số hoán vị là:

\frac{6! \times (3^4)^2 \times 2^5}{2}=75582720.

Đối với Tetraminx số hoán vị trên phải chia cho 34 do không có khối đỉnh.

Cách giải[sửa | sửa mã nguồn]

Để giải Pyraminx ta cần chỉnh các khối đỉnh về đúng khối cầu nối tương ứng, tiếp theo là giải đúng một mặt. Cuối cùng là chỉnh các khối cạnh còn lại về đúng vị trí.

Kỷ lục[sửa | sửa mã nguồn]

Kỷ lục giải Pyraminx đang thuộc về Tomasz Kiedrowicz thành tích 2,83 giây tại giải Gdansk mở rộng vào tháng 2 năm 2008. Còn Oscar Roth Andersen là người lập kỷ lục trung bình tại giải Skarup Xuân 2010 thành tích 3,92 giây.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]