Quận Trashigang

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Vị trí của số địa dzongkhag trong Bhutan

Quận Trashigang (Dzongkha: བཀྲ་ ཤིས་ སྒང་ རྫོང་ ཁག་; Wylie: Bkra-shis-sgang rdzong-khag; cũng viết là "Tashigang") là dzongkhag cực đông của Bhutan (quận).

Văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Quận Trashigang chủ yếu là Tshangla (Sharchop) s, có nghĩa là "người miền đông" trong tiếngDzongkha, ngôn ngữ quốc gia.

Ngôn ngữ[sửa | sửa mã nguồn]

Ngôn ngữ chiếm ưu thế của Trashigang là Tshangla (Sharchopkha), vùng lingua franca của miền đông Bhutan. Hai ngôn ngữ thiểu số có ý nghĩa được nói ở khu vực phía đông của huyện: ngôn ngữ Đông Bodish Dakpa và ngôn ngữ Bodk Brokpa miền Nam. Dakpa được nói bởi hậu duệ của cộng đồng yakherding, và thực tế có thể là một phương ngữ khác biệt của Brokpake, chịu ảnh hưởng nặng nề của Dzalakha.[1][2]

Nền kinh tế và giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Trong khi nó không có khu vực đô thị lớn, Trashigang dzongkhag có dân số đông nhất ở Bhutan. Nó từng là một phần của tuyến thương mại quan trọng nối Assam với Tây Tạng, và vẫn là một tuyến đường chính cho thương mại Bhutan với Ấn Độ. Các thị trấn bao gồm Trashigang (thủ phủ của quận), Radi, RangjungPhongmey. Huyện này sản xuất rất nhiều gạo và hoa oải hương.

Có một số gói du lịch đến Bhutan bao gồm các chuyến đi từ Thimphu đến Trashigang, bất chấp hành trình 17 giờ từ thủ đô trên con đường phía sau gồ ghề và nguy hiểm.

Trashigang dzongkhag cũng là địa điểm của trường Cao đẳng Sherubtse, trường đại học ban đầu trong hệ thống Đại học Hoàng gia Bhutan.

Các địa danh[sửa | sửa mã nguồn]

Trashigang Dzong

Trashigang Dzong, hay pháo đài, được xây dựng vào năm 1659 bởi Druk Desi Chögyal Mingyur Tenpa đệ Tam để bảo vệ chống lại quân xâm lược Tây Tạng. Bởi vì quân đội xâm chiếm độ cao của nó nhận xét rằng "nó không phải là một dzong trên mặt đất, nó là trên bầu trời".

Một lhakhang cổ hoặc ngôi đền trong quận, được biết đến với khu vườn đá của nó, có chứa một dấu chân thiêng liêng được cho là của Guru Rimpoche hoặc của một khandroma (thiên thần).

Rangjung, 16 km về phía đông của thủ phủ huyện, là nơi của Tu viện Rangjung Ösel Chöling, được thành lập bởi Dungse Garab Dorje Rinpoche vào năm 1989. Ngôi đền có những hình ảnh đặc biệt tốt về Padmasambhava, ShantarakshitaChögyal Trisong Detsen (Khen-Lop-Chö sum)..

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Quận Trashigang được chia thành mười lăm khối làng (hoặc gewogs):[3]

  • Bartsham Gewog
  • Bidung Gewog
  • Kanglung Gewog
  • Kangpara Gewog
  • Khaling Gewog
  • Lumang Gewog
  • Merak Gewog
  • Phongmey Gewog
  • Radhi Gewog
  • Sakten Gewog
  • Samkhar Gewog
  • Shongphu Gewog
  • Thrimshing Gewog
  • Uzorong Gewog
  • Yangneer Gewog

Khu vực được bảo vệ[sửa | sửa mã nguồn]

Khu bảo tồn động vật hoang dã Sakteng, một trong mười khu bảo tồn của Bhutan, được tạo ra một phần để bảo vệ người di cư, một loại yeti, nơi mà người Bhutan tin rằng sự tồn tại nhất.[4] Khu bảo tồn bao gồm phần ba phía đông của quận (gewogs của Merag và Sakteng), và được kết nối thông qua hành lang sinh học đến Khaling Wildlife Sanctuary ở Samdrup Jongkhar District về phía nam.[5]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Dakpakha”. Ethnologue Online. Dallas: SIL International. 2006. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2011. 
  2. ^ van Driem, George L. (1993). “Language Policy in Bhutan” (PDF). Luân Đôn: SOAS. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2011. 
  3. ^ “Chiwogs in Trashigang” (PDF). Election Commission, Government of Bhutan. 2011. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 2 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2011. 
  4. ^ “Older Bhutanese Remember Abominable Snowman”. 
  5. ^ “Parks of Bhutan”. Bhutan Trust Fund for Environmental Conservation online. Bhutan Trust Fund. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2011. 

Bên ngoài đường dẫn[sửa | sửa mã nguồn]