Quốc Thái (nhà Thanh)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Quốc Thái (chữ Hán: 国泰, ? – 1782), người tộc Phú Sát thị, Tương Bạch kỳ, dân tộc Mãn Châu, tham quan nhà Thanh.

Khởi nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Cha là Văn Thụ, được làm đến Tứ Xuyên Tổng đốc. Ban đầu Quốc Thái được thụ Hình bộ Chủ sự, qua 2 lần thăng chức thì làm đến Lang trung. Sau đó Quốc Thái được cất nhắc, ra làm Sơn Đông Án Sát sứ, rồi thăng Bố chánh sứ. Năm Càn Long thứ 38 (1773), Văn Thụ làm Thiểm Cam Tổng đốc, phụng mệnh xét án Tứ Xuyên Tổng đốc tiền nhiệm là A Nhĩ Thái buông thả con trai Minh Đức Bố vòi thuộc lại hối lộ, nhưng Văn Thụ giấu diếm không buộc tội, nên bị đầy đi thú ở Y Lê. Quốc Thái sợ hãi dâng sớ tạ tội cho cha, xin theo cha đến nơi thú để chuộc tội. Càn Long Đế dụ rằng: ‘Mày vô tội, hà tất sợ hãi?”. Năm thứ 42 (1777), Quốc Thái được thăng làm Tuần phủ.

Thăng tiến[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc Thái vốn là con em hoàn khố, sớm được giàu sang, nên gặp thuộc lại không giữ lễ, hơi không vừa ý, liền trách mắng. Đại học sĩ A Quế cho rằng Quốc Thái ngang ngược, xin đổi ông làm quan ở kinh sư. Năm thứ 46 (1781), Càn Long Đế triệu Bố chánh sứ Vu Dịch Giản về kinh hỏi tình hình của Quốc Thái, nhưng Dịch Giản siểm nịnh Quốc Thái, nên ra sức biện giải cho ông. Càn Long Đế giáng chỉ răn Quốc Thái đối với thuộc lại nên khoan – nghiêm vừa phải, lệnh cho ông cảnh tỉnh mà thay đổi. Gặp lúc Văn Thụ được phục chức, làm Tứ Xuyên Tổng đốc, vì Quắc phỉ [1] làm loạn, lần nữa chịu đi thú Y Lê. Quốc Thái chưa dâng sớ nhận tội cho cha, hơn tháng sau lại dâng sớ cảm tạ được ban thịt hươu, nên bị Càn Long Đế trách mắng. Quốc Thái xin nạp tiền dưỡng liêm để chuộc tội cho cha, rồi xin trị tội mình, đế mới tha cho ông.

Cái chết[sửa | sửa mã nguồn]

Năm thứ 47 (1782), Ngự sử Tiền Phong hặc Quốc Thái và Vu Dịch Giản tham ô của công, vòi các châu, huyện hối lộ, khiến kho lẫm của các châu, huyện thiếu hụt. Càn Long Đế mệnh cho Thượng thư Hòa Thân, Tả đô Ngự sử Lưu Dung tra án, rồi lệnh cho Tiền Phong cũng tham gia. Hòa Thân vốn bênh Quốc Thái, còn Lưu Dung ngay thẳng, lấy cớ Quốc Thái bạo ngược quê hương của mình, nên bênh Tiền Phong. Lưu Dung chứng nghiệm bạc trong kho có màu sắc bất nhất, chính là mượn ở bên ngoài để bổ sung vào kho; còn tra ra Quốc Thái vòi vĩnh các thuộc lại, nhiều lần đã lên đến ngàn vạn lạng bạc, khi xưa Vu Dịch Giản dám nói dối Hoàng đế. Án đã tra xong, bị cáo đều bị luận tội chém, Càn Long Đế mệnh đổi làm Giam hậu, bắt vào ngục của bộ Hình. Tuần phủ Minh Hưng dâng sớ nói xét ra kho lẫm của các châu, huyện thiếu 200 vạn lạng bạc có dư, đều là việc thời Quốc Thái, Vu Dịch Giản ở chức. Càn Long Đế lập tức mệnh cho cật vấn bọn Quốc Thái trong ngục, bọn họ nói gặp loạn Vương Luân, các châu, huyện sai công sứ mượn tiền Quân hưng [2], gây thiếu hụt kho lẫm. Càn Long Đế cho rằng “Loạn Vương Luân nổi lên không quá 1 tháng, cho dù nói việc Quân hưng là gấp, làm sao nhiều đến 200 vạn? Tức là có vấn đề, lẽ ra Quốc Thái, Vu Dịch Giản phải nói thật, còn dám nói dối bề trên, cứ xem như các thuộc lại rút ruột mà lờ đi không hỏi, thì cũng có tội ngang với bọn Vương Đản Vọng.” [3] Càn Long Đế lập tức mệnh ban cho Quốc Thái tự vẫn trong ngục.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Quắc Lỗ (啯噜), tiền thân của Ca Lão hội, là tổ chức cướp bóc hoạt động vào thời Càn Long nhà Thanh, thành viên tự nhận là Quắc Lỗ tử (về sau là Ca lão), chánh quyền gọi là Quắc phỉ, cho đến nay ý nghĩa của từ “quắc lỗ” vẫn còn chưa rõ ràng. Quắc Lỗ xuất hiện ở Tứ Xuyên, rồi lan rộng sang các tỉnh Thiểm Tây, Hồ Nam, Hồ Bắc, Quý Châu, Vân Nam; kế thừa Thiên Địa hội về hình thức thu nạp thành viên theo lối kết bái rồi xưng huynh gọi đệ, nhưng loại trừ mục đích chính trị; tương đồng với Bạch Liên giáo về phương pháp tổ chức theo chiều ngang, không có thủ lãnh tối cao thật sự, nhưng loại trừ yếu tố tông giáo. Như thế, Quắc Lỗ lấy việc cướp bóc làm kế sanh nhai, là tổ chức mang hình thái xã hội đen sớm nhất trong lịch sử tội phạm Trung Quốc
  2. ^ Quân hưng (军兴) có 3 nghĩa: 1 là Trưng dụng tài sản để cung ứng cho quân đội; 2 là Chế độ, pháp lệnh vào thời chiến; 3 là Bắt đầu hành động quân sự. Ở đây là nghĩa thứ nhất, nhưng mới chỉ dừng ở mức độ trưng dụng của công
  3. ^ Vương Đản Vọng là Cam Túc bố chánh sứ mà chẳng biết đạo viên và tri phủ dưới quyền báo cáo hạn hán sai sự thật, nên chịu chém đầu vào năm 1781