RVNS Trần Bình Trọng (HQ-5)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
RVNS Trần Bình Trọng (HQ-5)
Phục vụ (Hoa Kỳ)
Tên gọi: USS Castle Rock (AVP-35)
Đặt tên theo: Castle Rock, một đảo ở Alaska
Hãng đóng tàu: Lake Washington Shipyard, Houghton, Washington
Đặt lườn: 12 tháng 7 năm 1943
Hạ thủy: 11 tháng 3 năm 1943
Đỡ đầu bởi: Mrs. R. W. Cooper
Nhập biên chế: 8 tháng 10 năm 1944
Xuất biên chế: 6 tháng 8 năm 1946
Số phận: - Cho Tuần duyên Hoa Kỳ mượn, 16 tháng 9 năm 1948
- Chuyển giao vĩnh viễn cho Tuần duyên Hoa Kỳ, 26 tháng 9 năm 1966
Phục vụ (Hoa Kỳ) Ensign of the United States Coast Guard.svg
Tên gọi: USCGC Castle Rock (WAVP-383)
Đặt tên theo: Previous name retained
Trưng dụng: - Hải quân Hoa Kỳ cho Tuần duyên Hoa Kỳ mượn, 16 tháng 9 năm 1948
- Chuyển giao vĩnh viễn từ Hải quân Hoa Kỳ cho Tuần duyên Hoa Kỳ, 26 tháng 9 năm 1966
Nhập biên chế: 18 tháng 12 năm 1948
Xuất biên chế: 21 tháng 12 năm 1971
Xếp lớp lại: High endurance cutter, WHEC-383, 1 tháng 5 năm 1966
Danh hiệu và
phong tặng:
2 campaign star vì sự phục vụ trong Chiến tranh Việt Nam
Số phận: Chuyển giao cho Việt Nam Cộng Hòa 21 tháng 12 năm 1971
Phục vụ (Việt Nam Cộng Hòa) Naval Ensign of South Vietnam.png
Tên gọi: RVNS Trần Bình Trọng (HQ-5)
Đặt tên theo: Trần Bình Trọng (1259–1285), danh tướng Nhà Trần
Trưng dụng: 21 tháng 12 năm 1971
Số phận: - Đào thoát đến Philippines khi chính quyền Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ, tháng 4 năm 1975
- Chính thức chuyển giao cho Philippines, 5 tháng 4 năm 1976
Huy hiệu: xxxx100px]]
Phục vụ (Philippines) Flag of the Philippines.svg
Tên gọi: RPS Francisco Dagohoy (PF-10)
Đặt tên theo: Filipino revolutionary Francisco Dagohoy (fl. 1700s)
Trưng dụng: 5 tháng 4 năm 1976
Nhập biên chế: 23 tháng 6 năm 1979[1]
Xuất biên chế: June 1985
Đổi tên: BRP Francisco Dagohoy (PF-10), tháng 7 năm 1980
Số phận: Ngừng hoạt động từ tháng 3 năm 1993; có thể đã bị loại bỏ
Đặc điểm khái quát (Việt Nam Cộng Hòa)
Trọng tải choán nước: - 1 766 tấn (bình thường)
- 2 800 tấn (đầy tải)
Độ dài: 310 ft 9 in (94,72 m) (overall); 300 ft 0 in (91,44 m) mực nước
Sườn ngang: 41 ft 1 in (12,52 m)
Mớn nước: 13 ft 5 in (4,09 m)
Công suất lắp đặt: 6 080 horsepower (4.54 megawatts)
Động cơ đẩy: 2 x Fairbanks Morse 38D diesel engines
Tốc độ: Khoảng 18 knots (maximum)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
Khoảng 200
Vũ trang: - 1 × 5-inch/38-caliber (127-millimeter) dual-purpose gun
- 1 or 2 x 81-millimeter mortars in some ships[2]
- Một số súng máy

Tuần dương hạm Trần Bình Trọng (HQ-5) là một tàu chiến thuộc biên chế của Hải quân Việt Nam Cộng Hòa. Tàu đã tham gia Hải chiến Hoàng Sa 1974 đụng độ với Trung Quốc và soái hạm chỉ huy trong trận này.

Hải chiến Hoàng Sa 1974[sửa | sửa mã nguồn]

10 tháng 1 năm 1974, tàu Trung Quốc bắt đầu xuất hiện trong khu vực cụm tây quần đảo Hoàng Sa.

11 tháng 1 năm 1974, Bộ Ngoại giao Trung Quốc ngụy xưng chủ quyền tại Hoàng SaTrường Sa, là lời thách thức trắng trợn đối với chủ quyền của Việt Nam Cộng Hòa 11 tháng 1 năm

15 tháng 1 năm 1974, Bộ Tư lệnh Hải quân Vùng I Duyên hải lệnh cho tuần dương hạm RVNS Lý Thường Kiệt (HQ-16), do Trung tá Lê Văn Thự làm Hạm trưởng. Từ Đà Nẵng trực chỉ Hoàng Sa phối hợp lực lượng quân sự thường trực tại đây (một trung đội Địa phương quân thuộc Chi khu Hòa Vang với 24 quân nhân). Tàu khởi hành tối 15 tháng 1 và đến Hoàng Sa sáng 16 tháng 1 năm 1974.

17 tháng 1 năm 1974, khu trục hạm RVNS Trần Khánh Dư (HQ-4) cùng Hạm trưởng Vũ Hữu San đã đến Hoàng Sa, phối hợp với HQ-16 bảo vệ lãnh thổ, lãnh hải.

18 tháng 1 năm 1974, tuần dương hạm Trần Bình Trọng (HQ-5) do trung tá Phạm Trọng Quỳnh làm hạm trưởng và hộ tống hạm RVNS Nhật Tảo (HQ-10) do thiếu tá Ngụy Văn Thà chỉ huy, cùng đến Hoàng Sa.

Trong buổi chiều và tối 18 tháng 1 năm 1974, hai bên ở trong thế kiềm chế lẫn nhau, sử dụng loa, đèn hiệu hoặc di chuyển để đẩy đuổi đối phương.

Sáng 19 tháng 1 năm 1974, các tàu chiến của hai bên đã di chuyển theo đội hình chiến thuật, bộ chỉ huy trên soái hạm HQ-5 chỉ định mục tiêu cho từng chiến hạm thành viên để tiêu diệt địch. Theo đó, HQ-5 đối đầu tàu Krondstadt 274; HQ-4 đối đầu Krondstadt 271; HQ-10 đối đầu trục lôi hạm 396; HQ-16 đối đầu trục lôi hạm 389.

Lúc 10 giờ 22 sáng 19 tháng 1 năm 1974, lệnh tác xạ đồng loạt vào các chiến hạm Trung Quốc được ban hành từ HQ-5. Ngay trong những phút đầu, một chiếc Krondstadt bị trúng đạn bốc cháy. Sau đó, chiếc Krondstadt thứ hai cũng hư hại và phải ủi vào rạn san hô gần đó để khỏi chìm. Phía Việt Nam Cộng Hòa chịu tổn thất khi HQ-4HQ-5 đều trúng đạn nhưng vẫn còn chiến đấu được; HQ-16 bị hư hại nặng hơn và phải dần rút khỏi vòng chiến. Riêng HQ-10, là tàu nhỏ nhất, bị bắn chìm và Hạm trưởng Ngụy Văn Thà tử trận.

Đến gần 11 giờ, có tín hiệu cho thấy Trung Quốc đang tăng viện với các tàu tên lửa Komar xuất hiện từ xa. Nhận thấy tình thế bất lợi, chỉ huy trưởng Hà Văn Ngạc trên tàu HQ-5 ra lệnh cho toàn bộ lực lượng rời vùng giao tranh.[3]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Jane's Fighting Ships 1980-81, p. 370.
  2. ^ Sources do not specify which ships of the class mounted mortars or how many they mounted; see Jane's Fighting Ships 1973-1974, p. 592.
  3. ^ 40 năm Hải chiến Hoàng Sa: 9 ngày đêm bi tráng Báo Thanh Niên