Sông Cagayan

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Sông Cagayan
Jones Isabela.JPG
Đoạn sông chảy qua Jones thuộc Isabela
Đặc điểm
Dài350 km (220 mi)[1]
Lưu vực27.753 km2 (10.715 sq mi)[2]
Dòng chảy
Thượng nguồnDãy núi Caraballo
 Cao độ1.524 m (5.000 ft)
 Tọa độ16°11′8″B 121°08′39″Đ / 16,18556°B 121,14417°Đ / 16.18556; 121.14417
Cửa sôngEo biển Babuyan, Aparri
 Cao độ0
 Tọa độ18°20′B 121°37′Đ / 18,333°B 121,617°Đ / 18.333; 121.617Tọa độ: 18°20′B 121°37′Đ / 18,333°B 121,617°Đ / 18.333; 121.617
Địa lý
Các quốc gia lưu vực Philippines
Các tỉnh lưu vựcCagayan, Isabela, Nueva Vizcaya, Quirino
Các chi lưuChico, sông Magat, sông Ilagan, sông Pinacanauan

Sông Cagayan, còn gọi là Rio Grande de Cagayan, là sông dài nhất tại Philippines[3][4] và có lưu lượng dòng chảy lớn nhất toàn quốc. Sông có chiều dài khoảng 350 km, và diện tích lưu vực là 27.753 km².[2] Sông thuộc vùng Cagayan Valley tại phần đông bắc của đảo Luzon, chảy qua các tỉnh Nueva Vizcaya, Quirino, IsabelaCagayan. Các tỉnh này có khoảng hai triệu dân, hầu hết là nông dân và các bộ lạc bản địa.

Đầu nguồn của sông nằm tại dãy núi Caraballo thuộc Trung Luzon trên độ cao 1.524 mét (5.000 ft). Sông chảy về phía bắc khoảng 350 km[5] đến cửa sông tại eo biển Babuyan gần thị trấn Aparri, Cagayan. Sông chảy dốc xuống mức 91 m trên mực nước biển ở nơi cách cửa sông 227 km. Các chi lưu chính của sông Cagayan là Pinacanauan, Chico, Siffu, Mallig, MagatIlagan. Sông Cagayan và các chi lưu của nó lắng đọng trầm tích suốt thung lũng Cagayan tương đối bằng phẳng, hầu hết là cát đá vôi và sét. Thung lũng này giáp với dãy núi Cordillera về phía tây, dãy núi Sierra Madre về phía đông và dãy núi Caraballo về phía nam.

Lưu vực sông Cagayan

Lưu lượng hàng năm của sông Cagayan là 53,943 tỉ m³[6] có dự trữ nước ngầm là 47,895 tỉ m³.

Sông Cagayan và các chi lưu có thể gây ngập lụt lớn trong thời gian gió mùa từ tháng 5 đến tháng 10. Lượng mưa hàng năm trung bình là 1.000 mm ở phần phía bắc và 3.000 mm ở các dãy núi phía nam lưu vực sông. Nước từ trên núi đổ xuống rất chậm do có đồng bằng ngập lũ rộng, các hẻm núi thuộc các dãy núi dốc thoai thoải và dòng chảy uốn khúc.

Sông Cagayan chảy qua một trong vài khu rừng nguyên sinh còn lại của Philippines. Nó tạo thuận lợi cho môi trường sống của nhiều loài đặc hữu và bị đe doạ như bồ câu ngực đỏ Luzon (Gallicolumba luzonica), đại bàng Philippines (Pithecophaga jefferyi) và một loài cá ven sông hiếm có là ludong (Cestreaus plicatilis). Ludong đẻ trứng tại thượng du của sông Cagayan thuộc Jones, Isabela. Vào cuối tháng 10 đến giữa tháng 11, cá bơi xuôi dòng để thả trứng của chúng tại cửa sông gần Aparri.

Sông Cagayan tiêu nước cho một thung lũng màu mỡ, nông dân địa phương sản xuất nhiều loại cây trồng như lúa, ngô, chuối, dừa, cam quýt và thuốc lá. Các đập nước được xây trên hai chi lưu của sông Cagayan là Magat và Chico, và ngoài ra còn có các khu mỏ trên dãy núi Cordillera gần đầu nguồn của hai chi lưu này. Chính quyền địa phương dọc sông cũng phát triển các chương trình du lịch với các hoạt động trên sông, đặc biệt là đi bè vượt thác.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Cagayan River - River, Philippines”. www.britannica.com (bằng tiếng Anh). Encyclopedia Britannica. Ngày 20 tháng 7 năm 1998. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2017. 
  2. ^ a ă Vicente B. Tuddao Jr. (ngày 21 tháng 9 năm 2011). “Water Quality Management in the Context of Basin Management: Water Quality, River Basin Management and Governance Dynamics in the Philippines” (PDF). www.wepa-db.net. Department of Environment and Natural Resources. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2017. 
  3. ^ “Taming the Cagayan River, Inquirer.net”. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2017. 
  4. ^ “Longest Rivers In The Philippines, World Atlas”. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2017. 
  5. ^ "Principal River Basins of the Philippines", Published by the National Water Resources Board, October 1976 (p. 12)
  6. ^ “Flood Forecasting and Warning System for River Basins; The Cagayan River Basin”. Philippine Atmospheric, Geophysical and Astronomical Services Administration. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2016. 

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Wernstedt, F. L.; J. E. Spencer (1967). The Philippine Island World. Berkeley and Los Angeles: University of California Press. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]