Sông Vĩnh Định (Quảng Trị)
Sông Vĩnh Định là phân lưu trong mạng lưới châu thổ của sông Thạch Hãn. Sông Vĩnh Định chảy ở các huyện Hải Lăng và Triệu Phong tỉnh Quảng Trị, Việt Nam.[1][2][3]
Tại vùng hạ nguồn thì sông Vĩnh Định nối sông Thạch Hãn với sông Ô Lâu.[2]
Dòng chảy
[sửa | sửa mã nguồn]Theo dòng chảy sông Vĩnh Định có hai phần, tiếp vào đoạn phân lưu từ sông Thạch Hãn. Đoạn phân lưu này ở ranh giới xã Triệu Tài và Hải Quy, có tiếp nhận dòng sông Nhùng chảy đến.
Nhánh phía bắc chảy ở huyện Triệu Phong theo hướng đông bắc, tạo thành vòng cung và đổ trở lại vào sông Thạch Hãn, nơi hiện đã xây dựng đập Việt Yên để ngăn mặn [2]16°51′43″B 107°9′5″Đ / 16,86194°B 107,15139°Đ.

Nhánh phía nam chảy ở huyện Hải Lăng, chảy uốn lượn về đông nam và đổ vào sông Ô Lâu 16°41′58″B 107°21′5″Đ / 16,69944°B 107,35139°Đ.
Lịch sử
[sửa | sửa mã nguồn]Nạo vét sông thời Nguyễn
[sửa | sửa mã nguồn]Đây là một trong trong những công trình trị thủy lớn của tỉnh Quảng Trị dưới triều Nguyễn là công trình đào sông Vĩnh Định. Đây là con sông không chỉ quan trọng đối với nông nghiệp, giao thương của Quảng Trị mà nó liên quan trực tiếp đến Kinh sư. Vĩnh Định là 1 trong 8 con sông đào lớn được khơi thông dưới triều Nguyễn. Con sông này được đào và khơi vét nhiều lần,. trải dài từ triều vua Minh Mệnh đến các đời vua sau này. Công trình được khởi công từ mùa xuân tháng 3, năm Ất Dậu, Minh Mệnh thứ 6 (1825) đến ngày 20 tháng 7 năm đó thì hoàn thành.
Con sông đào Vĩnh Định nối liền giữa sông Thạch Hãn ở ngã ba Cổ Thành đến sông Lương Điền, thông vào phá Tam Giang nối liền với kinh đô Huế với chiều dài khoảng 17 dặm (hơn 7.5 km). Đây là con đường thủy nội địa huyết mạch quan trọng dưới triều Nguyễn.
Công việc đào sông Vĩnh Định được vua Minh Mệnh đặc biệt chú ý quan tâm. Trước khi tiến hành đào sông, vua Minh Mệnh ban chiếu cho Phan Văn Thúy đem theo Giám thành đến doanh Quảng Trị, phối hợp cùng doanh thần trong hạt điều tra, khám xét địa thế để xem có thuận tiện cho việc khai đào không? Đồng thời đã cho vẽ họa đồ khu vực định khai sông, có cắm hoa tiêu ghi chú. Phan Văn Thúy dựa vào họa đồ cho binh dân đào thử một hai đoạn để xem xét đất cát ở các khu vực trước khi tiến hành đào. Ngoài việc khảo sát họa đồ dự định đào con sông mới, Phan Văn Thúy còn phải khám xét hình thể sông cũ tâu lên rõ ràng để nhà vua quyết định.
Nguyên chú văn bia Ngự chế Quá Vĩnh Định hà đề dựng tại Cồn Đống, bên bờ sông Vĩnh Định viết:.. 前後 三月零十八日始成命為永定河 ...tiền hậu tam nguyệt linh thập bát nhật thủy thành, mệnh vi Vĩnh Định hà... Đào 3 tháng 18 ngày thì xong, bèn đặt cho tên là sông Vĩnh Định.
Trong sách Đại Nam Nhất Thống Chí có ghi ..."Năm Ất Dậu Minh Mệnh thứ 6(1825), sai Thống chế Phan Văn Thúy đốc dân phu khai đào từ xã Câu Kênh đến xã Trung Đan dài 1.720 trượng (một trượng bằng 4,7m), ba tháng thì xong, bèn cho tên hiện nay. Năm thứ 17, xa giá đi tuần Quảng Trị, thuyền ngự đi qua sông này, có thơ ngự chế khắc vào đá và dựng nhà bia ở bờ phía nam sông; cùng năm ấy đúc Cửu Đỉnh, khắc hình sông vào Thuần đỉnh. Năm Thiệu Trị thứ 2 (1844) xa giá Bắc tuần, có thơ ngự chế khắc vào bia dựng ở bờ sông".
Văn bia Ngự chế Quá Vĩnh Định hà đề, có ghi liệt kê tổng kinh phí đào sông:
– Tiền : hơn 6 vạn 4 nghìn 6 trăm quan .
– Thóc: hơn 2 vạn 9 nghìn 4 trăm phương.

Sau khi hoàn thành việc đào sông, trải qua các triều vua sau này con sông này liên tục được tu bổ, nạo vét và khơi thông. Trong tờ tấu của Bộ Công ngày 20 tháng 6 năm Tự Đức thứ 21 (1867), cho biết "ngày mồng 6 tháng này nhận được tập tấu của Lãnh quản đạo Quảng Trị Trần Ngọc Lý trình rằng: Ngày tháng 8 năm ngoái, nhận được cung lục của bộ thần trong đó trình tập tấu của các viên Khâm phái trình việc phúc khám sông Vĩnh Định. Trong đó trình rằng con sông ấy đoạn nào nông cạn, thuê dân hạt nạo vét. Còn như việc xin đình bãi thu thuế sông hai năm, bộ thần thấy đề nghị đó hợp lý. Xin đợi chỉ thực hiện."

Vua Tự Đức đã châu điểm cho tiến hành như phúc trình của Bộ Công. Ngay sau đó công việc khơi vét lại sông Vĩnh Định được tiến hành và đến tháng 7 thì hoàn thành. Tháng 5, năm Giáp Thân, niên hiệu Kiến Phúc năm thứ nhất (1884), triều đình cho khơi vét sông cũ Vĩnh Định ở Quảng Trị. Sông ấy vốn có mạch cát hễ khơi lên thì lại bị đầy, rồi sau mới khơi sông mới ; nước cát chưa chảy, sông cũ lại bị bồi lấp nhiều. Bốn tổng thuộc huyện Hải Lăng là: Câu Hoan, An Thư, An Nhân, An Thái, ruộng mùa rất nhiều, sông cũ không khơi, thì ruộng bị nước ngập, dân bốn tổng ấy xin xuất tài lực, thẳng khơi một đoạn ở hai xã Kim Lung, Kim Giao, lược vét một đoạn từ xã Kim Lung đến xã Hội An đều cho phép làm để tiện việc cấy ruộng mùa.
Bản tấu ngày mùng 5 tháng 9 năm Thành Thái 9 (1897) của Bộ Công về việc nạo vét sông: "Ngày 14 tháng này nhận được tờ tư của quyền hộ Phủ thần Trị Bình Phan Huy Quán trình bầy: Tỉnh ấy đào ngòi sông Vĩnh Định, ngày 18 tháng trước đào xong, tạm xuất tiền kẽm để mua sắm các hạng vật liệu cộng tiền là 180 quan.Ở bên sông có lập đàn làm lễ tạ, công việc xong, số tiền cho việc này có nên chăng được chuẩn cho thanh toán, làm tờ tư xin xem xét. Bộ thần vâng xét việc đào ngòi rãnh ở sông này vào năm Thành Thái nguyên niên, có mua sắm các lễ phẩm để làm lẽ tạ, các khoản tiền bao nhiêu được chuẩn cho quyết toán. Nay việc đào ngòi ở sông này đã xong mua sắm các lễ phẩm lễ tạ mua sắm hết số tiền như vậy xin được chiếu theo lệ trước đây chuẩn cho quyết toán. Dám xin tâu trình. Chờ chỉ sao lục tuân theo

Nhiều lần các vua triều Nguyễn ngự tuần ra Bắc đều đi qua con sông này. Năm thứ 17 (1836) vua ngự ra Quảng Trị, ngự châu kinh qua đường sông, phụng ngự chế thi- chương chạm bia đá dựng ở phía nam bờ sông. Năm ấy đúc 9 cái đỉnh lấy hình sông này chạm vào Thuần Đỉnh. Năm Thiệu Trị thứ 2 (1842) đại giá Bắc tuần phụng ngự chế thi chương chạm vào bia dựng ở bờ sông. Ngày nay đi qua địa phận xóm Cồn Đống làng Cu Hoan xã Hải Thiện huyện Hải Lăng vẫn còn thấy hai bài văn bia do vua Minh Mệnh và Thiệu Trị ngự chế trong đợt Bắc tuần đi qua sông Vĩnh Định. Mặc dù đạn bắn làm mất nhiều chữ nhưng nhìn chung vẫn có thể đọc được cơ bản nội dung của hai bài văn bia. Bài văn bia do vua Minh Mệnh viết có tựa đề Ngự chế quá Vĩnh Định hà đề御製過永定河題, Minh Mệnh thập thất niên thất nguyệt nhị thập cửu nhật 明命十七年七月二十九日(1836). Trong bài văn bia này lược thuật lại quá trình đào sông sau đó là một bài thơ do vua Minh Mệnh làm ca ngợi cảnh đẹp của sông. Bài văn bia do vua Thiệu Trị viết có tựa đề Quá Vĩnh Định hà cảm tác 過永定河感作, Thiệu Trị nhị niên thập nhị nguyệt cát nhật cung thuyên. Ngự chế thi nhất thủ" 紹治二年十二月吉日恭鐫御製詩一首 (1842)[4].
| Bài văn bia ngự chế vua Minh Mệnh viết: | ||
|---|---|---|
| 過永定河留題 (十二韻 )
此原有水渠, 竟被浮沙積 梗阻往來船 , 幾為平陸地 曾聞昔屢開 , 終見功難遂 豈憚一時勞 , 務期萬世利 僱夫即起工 , 發帑急修治 十里鑿成河 , 九旬纔蕆事 國家運道通 , 商賈周行易 也識協民情 , 回思動我意 在是在非間 , 為己為人異 客舫本常過 , 御舟三兩至 何須費自評 , 弗若付公議 略敘表衷懷 , 長篇聊以誌 |
Quá Vĩnh Định hà lưu đề (thập nhị vận)
Thử nguyên hữu thủy cừ, Cánh bị phù sa tích. Ngạnh trở vãng lai thuyền, Cơ vi bình lục địa. Tằng văn tích lũ khai, Chung kiến công nan toại. Khởi đạn nhất thời lao, Vụ kì vạn thế lợi. Cố phu tức khởi công, Phát nô cấp tu trị. Thập lí tạc thành hà, Cửu tuần tài siển sự. Quốc gia vận đạo thông, Thương cổ chu hành dị. Dã thức hiệp dân tình, Hồi tư động ngã ý. Tại thị tại phi gian, Vi kỉ vi nhân dị. Khách phảng bổn thường quá, Ngự chu tam lưỡng chí. Hà tu phí tự bình, Phất nhược phó công nghị. Lược từ biểu trung hoài, Trường thiên liêu dĩ chí. |
Dịch:
Qua sông Vĩnh Định làm một bài thơ lưu lại (thơ 12 vần) Nơi này nguyên đã có con lạch nhỏ, rút cuộc bị phù sa bồi lấp. Ngăn trở việc đi lại của tàu thuyền, nguy cơ trở thành đất bằng. Từng nghe rằng trước đây đã mấy lần nạo vét, cuối cùng chẳng thấy thành công. Há sợ vất vả khó nhọc, để đến mùa vụ muôn đời hưởng lợi. Thuê dân phuc lập tức khởi công, cấp phát ngân khố để mau mau sửa trị. Đào mười dặm đã thành sông, trong chín tuần mà việc đã hoàn thành. Việc vận chuyển của đất nước đã thông suốt, thương khách đi lại dễ dàng. Cũng biết đó là việc hợp với tình dân, nghĩ đi nghĩ lại lay động ý ta. Trên thế gian có đúng có sai, mưu lợi cho mình hay cho người cũng khác. Khách buôn vốn thường đi qua, thuyền ngự ba lần đi đến. Việc gì phí lời bình phẩm, cũng chẳng cần phải để công chúng bàn bạc. Mưu tính đã rõ trong lòng ta, nên làm bài thơ dài để mà ghi lại. |
Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]- ↑ Tập bản đồ hành chính Việt Nam. Nhà xuất bản Tài nguyên – Môi trường và Bản đồ Việt Nam. Hà Nội, 2013.
- 1 2 3 Bản đồ tỷ lệ 1:50.000 tờ E-48-83 ABCD. Cục Đo đạc và Bản đồ Việt Nam, 2004.
- ↑ Thông tư 06/2014/TT-BTNMT ngày 12/02/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về Ban hành Danh mục địa danh dân cư, sơn văn, thủy văn, kinh tế - xã hội phục vụ công tác thành lập bản đồ phần đất liền tỉnh Quảng Trị. Thuvien Phapluat Online, 2016. Truy cập 10/08/2018.
- ↑ I, Trung tâm lưu trữ quốc gia (ngày 11 tháng 9 năm 2019). "Sông Vĩnh Định - Tỉnh Quảng Trị qua Châu bản triều Nguyễn". VTLT. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2026.