Sơn dương Sumatra

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Sơn dương đen)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Sơn dương Sumatra[1]
Serow Capricornis sumatraensis.JPG
1 con sơn dương Sumatra tại vườn thú Dusit
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Mammalia
Bộ (ordo) Artiodactyla
Họ (familia) Bovidae
Phân họ (subfamilia) Caprinae
Chi (genus) Capricornis
Loài (species) C. sumatraensis
Danh pháp hai phần
Capricornis sumatraensis
(Bechstein, 1799)

Sơn dương Sumatra (tên tiếng Anh: Sumatran serow, danh pháp hai phần: Capricornis sumatraensis) là một loài động vật có hình dạng nửa giống dê nửa giống linh dương thuộc bộ Artiodactyla (guốc chẵn), họ Bovidae. Nguồn gốc từ vùng rừng núi thuộc bán đảo Mã Lai, miền Nam Thái Lan và đảo Sumatra (Indonesia)[2].

Tại Việt Nam, loài động vật này xuất hiện ở miền bắc Việt Nam và được người Việt quen gọi là Sơn dương đen.

Tên cũ của loài này là "mainland serow" (sơn dương lục địa), khi mà tất cả các loài serow (tên tiếng Anh của các loài hình dạng nửa giống dê nửa giống linh dương) ở lục địa (Trung Quốc, đỏ, Himalaya) được coi là phân loài của loài này; nhưng ngày nay chúng được xếp thành các loài riêng. Do mất môi trường sống cùng tình trạng săn bắn không kiểm soát đã khiến chúng bị đưa vào danh sách loài sắp nguy cấp[2] của IUCN.

Phân bố[sửa | sửa mã nguồn]

Mainland Serow (Capricornis sumatraensis).jpg

Loài sơn dương này sinh sống rải rác tại một số khu vực thuộc Ấn Độ, Myanmar, miền Nam Trung Quốc, Lào, Malaysia, Indonesia và cả ở Việt Nam. Tại Việt Nam chúng được tìm thấy tại khu vực các tỉnh biên giới phía Bắc dọc vào cho đến địa phận Lâm Đồng.

Mô tả[sửa | sửa mã nguồn]

Sơn dương Sumatra có kích thước lớn, chiều dài cơ thể khoảng 120–180 cm, bờ vai khi đứng cao khoảng 100 cm, trọng lượng 50–120 kg, những con đực trưởng thành có thể nặng đến 150 kg. Ngoại hình của chúng nửa giống dê, nửa giống linh dương với phần lông dài trên đỉnh đầu và cổ tạo thành bờm. Toàn thân phủ lông dày, nhám, màu xám đen hoặc màu tro. Cả con đực và con cái đều có cặp sừng ngắn (chỉ khoảng 30 cm) có dạng ống tròn và nhiều nếp ngang, nhọn cong về phía sau. Đuôi của chúng rất ngắn.

Thức ăn[sửa | sửa mã nguồn]

Sơn dương Sumatra cũng giống như hầu hết các loài sơn dương, thức ăn của chúng là cỏ, chủ yếu ăn cỏ non cùng một số loại lá cây khác.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Wilson, D. E.; Reeder, D. M. biên tập (2005). Mammal Species of the World . Baltimore: Nhà in Đại học Johns Hopkins, 2 tập (2.142 trang). ISBN 978-0-8018-8221-0. OCLC 62265494. 
  2. ^ a ă â Duckworth, J.W., Steinmetz, R. & MacKinnon, J. (2008). Capricornis sumatraensis. Sách đỏ IUCN các loài bị đe dọa. Phiên bản 2014.3. Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2014. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]