Sarin

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Sarin[1]
Sarin Structural Formulae V.1.svg
Sarin-3D-balls.png
Danh pháp IUPAC (RS)-2-(Fluoro-methylphosphoryl)oxypropane
Tên khác (RS)-O-isopropyl methylphosphonofluoridate
GB
Nhận dạng
Số CAS 107-44-8
PubChem 7871
Ảnh Jmol-3D ảnh
SMILES
InChI 1/C4H10FO2P/c1-4
(2)7-8(3,5)6/h4H,1-3H3
Thuộc tính
Công thức phân tử C4H10FO2P
Phân tử gam 140.09 g/mol
Bề ngoài Chất lỏng trong suốt. Gần như ở dạng thể trong suốt.
Khối lượng riêng 1.0887 g/cm³ at 25 °C
1.102 g/cm³ at 20 °C
Điểm nóng chảy −56 °C (217 K; −69 °F)
Điểm sôi 158 °C (431 K; 316 °F)
Độ hòa tan trong nước miscible
Các nguy hiểm
Phân loại của EU Extremely Toxic (T+), Corrosive (C), Liquid form burns skin
NFPA 704

NFPA 704.svg

0
4
2
 

Sarin, cũng được biết đến theo tên gọi của NATOGB, (O-Isopropyl methylphosphonofluoridate) là một chất độc cực mạnh, được sử dụng như một chất độc thần kinh. Trong lĩnh vực quân sự, nó được dùng làm vũ khí hóa học và được Liên Hợp Quốc xếp vào loại Vũ khí hủy diệt hàng loạt. Việc sản xuất và tích trữ sarin bị cấm bởi Hiệp định Vũ khí hoá học năm 1993.

Nguồn gốc tên gọi[sửa | sửa mã nguồn]

Tên sarin bắt nguồn từ các chữ cái đầu trong tên của các nhà hóa học đã tình cờ khám phá ra nó: Schrader, Ambros, Ruediger et Van der Linde. Các nhà khoa học này đã cố gắng tạo ra loại thuốc trừ sâu mạnh hơn nhưng công thức chế tạo sau đó bị quân đội Đức Quốc xã thâu tóm để sản xuất vũ khí hóa học, và được các nhà khoa học Đức quốc xã phát triển vào năm 1938.

Tính chất hoá học[sửa | sửa mã nguồn]

Ở nhiệt độ trong phòng, sarin là một chất lỏng không màu, không mùi.

Triệu chứng nhiễm độc[sửa | sửa mã nguồn]

Các triệu chứng khi một người tiếp xúc với sarin là đau đầu, buồn nôn, mờ mắt, chảy nước dãi, co giật, ngừng hô hấp và bất tỉnh. Việc hít phải một liều cao khoảng 200 miligam sarin có thể gây chết người “chỉ trong vài phút”, thậm chí không có thời gian để xuất hiện triệu chứng, theo Tổ chức Cấm Vũ khí Hóa học.

Nó có thể gây chết người ngay cả ở nồng độ rất thấp, nơi mà cái chết có thể xảy ra trong vòng một vài phút sau khi hít trực tiếp của một liều gây chết, do ngạt thở từ tê liệt cơ bắp và phổi.

Một số thuốc giải độc, thường là atropine và một oxime như pralidoxime. Những người hấp thụ một liều không gây chết người, nhưng không nhận được điều trị y tế ngay lập tức, có thể bị tổn thương thần kinh vĩnh viễn.

Lịch sử sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trước năm 1950, NATO công nhận sarin như một Vũ khí hóa học tiêu chuẩn, và Hiệp hội USSR và Hoa Kỳ đã sản xuất sarin cho mục đích quân sự.
  • Vào năm 1953, Ronald Maddison, kĩ sư 20 tuổi về không quân Hoàng gia, đến từ Consett, County Durham, đã chết trong cuộc thử nghiệm sarin trên cơ thể người tại Cơ sở thử nghiệm Vũ khí chiến tranh Porton Down, Wiltshire, Anh. 10 ngày sau cái chết của ông, một cuộc điều tra đã nắm giữ bí mật, thứ mà đã tiếp diễn trở lại cùng kết luận tai nạn bất ngờ. Vào năm 2004, cuộc điều tra được khơi lại, và sau 64 ngày, thẩm phán tuyên bố rằng Maddison bị giết chết một cách phạm pháp bởi tác dụng của chất độc thần kinh này trong buổi thử nghiệm.
  • Năm 1957, việc sản xuất vũ khí chiến tranh sarin thường niên bị ngưng lại tại Hoa Kỳ, mặc dù cổ phiếu mua bán sarin vẫn được giữu lại cho tới năm 1970.
  • Năm 1976, Hiệp hội Khoa học Chile, DINA, chỉ định nhà sinh học Eugenio Berríos để điều chế khí sarin trong một dự án mang tên Proyecto Andrea, để sử dụng chúng như một vũ khí bất chấp những ý kiến trái chiều. Một trong những thành công của DINA đó là chuyển chúng vào bình xịt để tiện lợi hơn, được khai ra bởi đặc vụ DINA Michael Townley. Đó là một trong những phương pháp dự định triển khai vào năm 1976. Sau này, Berrios đã đứng ra làm chứng rằng chúng được sử dụng trong một loạt vụ ám sát tại thời điểm này.
  • Tháng 3 năm 1988, trong vòng 2 ngày trong tháng 3, bộ tộc thành phố Kurd trực thuộc Halabja ở phía Bắc Iraq (dân số 70.000 người) bị đánh bom hoá học, gồm cả sarin trong vụ tấn công bằng khí độc này khiến 5000 người thiệt mạng.
  • Tháng 4 năm 1988, sarin được sử dụng 4 lần với mục đích đầu độc binh lính, sĩ quan quân đội Iran trong thời điểm cuối cùng của cuộc chiến tranh giữa Iraq và Iran, giúp lực lượng Iraq tái chỉ huy tổ chức Hồi giáo Peninsula trong trận chiến thứ 2.
  • Năm 1993, Hiệp định Công ước Vũ khí Hoá học được kí kết bởi 162 nước thành viên, về cấm sản xuất và dự trữ Vũ khí hoá học, bao gồm sarin. Nó chính thức có hiệu lực vào ngày 29 tháng 4 năm 1997. Cho đến tháng 4 năm 2007, các kho dự trữ Vũ khí hoá học mọi trạng thái đã bị phá huỷ hoàn toàn.
  • Năm 1994, vụ khủng bố Matsumoto, do môn phái Nhật Aum Shinrikyo đã giải phóng 1 dạng sarin ở vùng Matsumoto, Nagano, khiến 8 người chết và khoảng 200 người bị thương.
  • Năm 1995, vụ tấn công bằng khí sarin ở đường hầm Tokyo, khi phái Aum giải phóng 1 dạng sarin trên tàu điện ngầm khiến 13 người tử vong.
  • Năm 2004, quân phiến loạn Iraq làm nổ một quả mìn 155mm chứa sarin gần khu bảo hộ của Hoa Kỳ tại Iraq. Quả mìn được thiết kế để trộn lẫn hoá chất trong lúc nó đang quay nhưng cuối cùng, quả mìn đã nổ nhưng chỉ giải phóng một lượng nhỏ sarin. Tuy nhiên, 2 người lính Hoa kỳ đã bị điều động sau khi các triệu chứng ban đầu của việc nhiễm độc sarin biểu lộ.
  • Năm 2013, Chiến tranh hoá học Ghouta, sarin được sử dụng trong cuộc tấn công ở khu vực Ghouta của Syria trong thời kì nội chiến, khiến con số người chết vô tội từ 322 đến 1729 người.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Material Safety Data Sheet -- Lethal Nerve Agent Sarin (GB)”. 103d Congress, 2d Session. United States Senate. 25 tháng 5 năm 1994. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2004. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Phương tiện liên quan tới Sarin tại Wikimedia Commons