Sturer Emil

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Sturer Emil
Vk3001.png
Loại Pháo tự hành hạng nặng
Quốc gia chế tạo  Đức Quốc xã
Lược sử hoạt động
Phục vụ 1942-1943
Sử dụng bởi  Đức Quốc xã
Cuộc chiến tranh Thế chiến II
Lược sử chế tạo
Năm thiết kế 1941
Giai đoạn sản xuất 1942
Số lượng chế tạo 2
Thông số
Khối lượng 35 tấn
Chiều dài 9.7 m
Chiều rộng 3.16 m
Chiều cao 2.7 m
Kíp chiến đấu 5

Phương tiện bọc thép 15 - 50 mm
Vũ khí
chính
Rheinmetall 128 mm PaK 40 L/61
Vũ khí
phụ
MG 34
Động cơ Động cơ Maybach V-6(có sử dụng 2 bộ tản nhiệt), HL116
300 mã lực (220 kW)
Công suất/trọng lượng 8.57 hp/tấn
Sức chứa nhiên liệu 450 lít (120 gal Mỹ)
Tốc độ 25 km/h

12.8 cm Selbstfahrlafette auf VK3001(H) "Sturer Emil" là tên một loại tăng tự hành của Đức Quốc xã trong thế chiến II.Emil chỉ là một mẫu thí nghiệm được lắp trên khung tăng Henschel VK3001, được trang bị pháo 12.8 cm K L/61.Emil có thể quay sang hai bên khoảng 6 độ, nâng lên hết cỡ 18 độ và hạ nòng xuống được 15 độ.

Emil nằm trong dự án tăng siêu nặng VK3001 của tập đoàn Henschel.Thân và xích của Emil được đặt riêng và sản xuất rất đặc biệt.Phần thân tăng phải đủ rộng để lắp vừa pháo 12.8 cm K L/61(có kích thước khá lớn), ngoài ra đầu tăng để hở nhằm mục đích tản nhiệt bớt cho động cơ.Theo như bản thiết kế thì Emil có hai buồng động cơ chính được đặt ở phía sau.Cả hai đều sử dụng bộ tản nhiệt hơi nước Maybach.

Chỉ có duy nhất hai chiếc Emil được sản xuất(biệt danh:Max và Moritz) được xuất xưởng và cho hoạt động ở mặt trận phía Đông.Trong trận Stalingrad, một chiếc đã bị phá huỷ, chiếc còn lại bị bắt giữ bởi quân đội Liên Xô.Cả hai chiếc đều đã ghi công tiêu diệt hơn 25 chiếc thiết giáp của Liên Xô.

Hiện giờ, Sturer Emil được trưng bày tại bảo tàng thiết giáp Kubinka, Nga.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]