Tần Ninh công

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Tần Ninh công
秦宪公
Vua chư hầu Trung Quốc (chi tiết...)
Vua nước Tần
Trị vì 715 TCN - 704 TCN
Tiền vị Tần Văn công
Kế vị Tần Xuất tử
Thông tin chung
Hậu duệ Tần Vũ công
Tần Đức công
Tần Xuất tử
Thụy hiệu

  • Ninh công (宪公)
  • Hiến công (献公)
Thân phụ Tần Tĩnh công
Sinh 725 TCN
Mất 704 TCN
Trung Quốc

Tần Ninh công (chữ Hán: 秦憲公, trị vì: 715 TCN704 TCN[1][2]), hay Tần Hiến công (秦献公), là vị vua thứ tám của nước Tần - chư hầu nhà Chu trong lịch sử Trung Quốc.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Sử ký, Tần Ninh công là cháu đích tôn của Tần Văn công, vua thứ 7 nước Tần. Cha ông là Tần Tĩnh công đã qua đời trước ông nội nên ông được lập làm người kế vị. Năm 716 TCN, Tần Văn công mất, ông lên nối ngôi, lúc đó mới 10 tuổi[1].

Năm 714 TCN, Tần Ninh công dời đô đến Bình Dương (平阳, ngày nay thuộc Thiểm Tây) và điều quân đánh đất Đãng Xa của nước Bạc. Sang năm 713 TCN, ông lại điều quân đánh nước Bạc lần thứ 2, vua nước Bạc thua chạy sang Tây Nhung.

Năm 704 TCN, Tần Ninh công đánh họ Đãng và chiếm đất Đãng.

Cùng năm, Tần Ninh công qua đời khi mới 22 tuổi. Ông ở ngôi được 12 năm, được an táng tại Tây Sơn.

Tần Ninh công lấy vợ là Cơ Tử nước Lỗ, sinh được hai người con lớn. Sau đó ông lại sinh ra người con trai út. Ninh công vốn đã lập người con trưởng làm thế tử, nhưng sau khi ông qua đời, 3 đại thần là Phất Kỵ, Uy Lũy và Tam Phủ phế thế tử, lập người con út là Doanh Mạn mới 5 tuổi lên nối ngôi, tức là Tần Xuất tử.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Sử ký Tư Mã Thiên, thiên:
    • Tần bản kỷ
  • Phương Thi Danh (2001), Niên biểu lịch sử Trung Quốc, Nhà xuất bản Thế giới

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Sử ký, Tần bản kỷ
  2. ^ Phương Thi Danh, sách đã dẫn, tr 15