Thác Bạt Thập Dực Kiền
| Đại Chiêu Thành Đế 代昭成帝 | |||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Hoàng đế Trung Hoa | |||||||||||||
| Vua Bắc Đại | |||||||||||||
| Trị vì | 338 – 376 | ||||||||||||
| Tiền nhiệm | Đại Liệt Đế | ||||||||||||
| Kế nhiệm | triều đại diệt vong | ||||||||||||
| Thông tin chung | |||||||||||||
| Sinh | 320 | ||||||||||||
| Mất | 376 | ||||||||||||
| Thê thiếp | Mộ Dung Hoàng Hậu, con gái của Mộ Dung Hoảng (vua Tiền Yên) | ||||||||||||
| Hậu duệ |
| ||||||||||||
| |||||||||||||
| Triều đại | Bắc Đại | ||||||||||||
| Thân phụ | Thác Bạt Úc Luật | ||||||||||||
Thác Bạt Thập Dực Kiền (tiếng Trung: 拓跋什翼犍; bính âm: Tuòbá Shíyìjiān) (320-376), là một thủ lĩnh tối cao của người Tiên Ti và là vua của nước Đại vào thời Ngũ Hồ thập lục quốc trong lịch sử Trung Quốc. Ông tại vị từ năm 338 đến năm 376. Thác Bạt Thập Dực Kiền là con trai thứ của Thác Bạt Úc Luật và là em trai của Thác Bạt Ế Hòe.
Cuộc đời
[sửa | sửa mã nguồn]Năm 329, Thác Bạt Ế Hòe lên ngôi Đại vương, đã đưa Thác Bạt Thập Dực Kiền đến Hậu Triệu để làm con tin với mục đích thỉnh cầu hòa giải giữa hai bên. Năm 338, Thác Bạt Ế Hòe bệnh trọng, đã để lại di mệnh lập Thác Bạt Thập Dực Kiền làm người kế vị. Các tù trưởng bộ lạc do nghĩ rằng Thác Bạt Thập Dực Kiền khó mà có thể quay trở về từ Hậu Triệu, bèn ủng hộ em trai của Thác Bạt Thập Dực Kiền và Thác Bạt Cô (拓跋孤) lên ngôi. Thác Bạt Cô tuy vậy lại cự tuyệt và tự nguyện đến Hậu Triệu để làm con tim thay cho Thác Bạt thập Dực Kiền, Thiên vương Thạch Hổ của Hậu Triệu cảm kích trước điều này và đã cho cả hai hồi quốc. Vì vậy, khi Thác Bạt Thập Dực Kiền làm Đại vương ở Phồn Trì (繁峙, nay thuộc Hồn Nguyên, Sơn Tây) và đặt niên hiệu "Kiến Quốc", đã phân phong một nửa lãnh thổ cho Thác Bạt Cô. Năm Kiến Quốc thứ 3 (340), Thác Bạt Thập Dực Kiền thiên đô về Thịnh Lạc (盛樂, nay thuộc Horinger, Nội Mông).
Thác Bạt Thập Dực Kiền là người có cả hai đức tính can đảm và khôn ngoan, do vậy sự nghiệp của tổ tiên dần dần được phục hưng, ông bắt đầu thiết lập hàng quan phẩm, phân biệt quản lý chính vụ, luật lệ đơn giản, dân chúng an cư lạc nghiệp. Lãnh thổ phía đông từ Uế Mạch (nay là bắc bộ bán đảo Triều Tiên), nam đến Âm Sơn, bắc giáp sa mạc. Năm Kiến Quốc thứ 39 (376), Tiền Tần tấn công nước Đại, lúc này con trai của Thác Bạt Cô là Thác Bạt Cân vì không thể kế thừa chức vụ của cha nên trong lòng oán giận, do đó đã lừa thứ trưởng tử của Thác Bạt Thập Dực Kiền là Thác Bạt Thật Quân giết chết huynh đệ, Thác Bạt Thật Quân do vậy đã giết hết huynh đệ cùng phụ thân. Tiền Tần nhân lúc nước Đại có loạn nên đã phát động công kích, nước Đại diệt vong.
Năm 398, cháu của Thác Bạt Thập Dực Kiền là Thác Bạt Khuê đã xưng đế, trở thành Bắc Ngụy Đạo Vũ Đế. Thác Bạt Khuê đã truy thụy cho Thác Bạt Thập Dực Kiền là Chiêu Thành Hoàng đế (昭成皇帝), miếu hiệu là Cao Tổ (高祖).
Gia quyến
[sửa | sửa mã nguồn]- Thân phụ: Thác Bạt Úc Luật
- Thân mẫu: Vương thị (王氏, ? - 355), người Quảng Ninh, sau tặng Bình Văn Hoàng hậu (平文皇后).
- Kế mẫu: Hạ Lan thị (贺兰氏)
- Anh em:
- Thác Bạt Ế Hòe, mẹ là Hạ Lan thị.
- Thác Bạt Khuất (拓跋屈)
- Thác Bạt Cô (拓跋孤), tặng Cao Lương Thần Vũ vương (高凉神武王).
- Thác Bạt thị, lấy Hạ Lan Hột (贺兰纥).
- Thác Bạt thị, lấy tộc trưởng Độc Cô bộ là Lưu Lộ Cô (刘路孤), sinh Lưu Khố Nhân (刘库仁).
- Thê thiếp:
- Chính thất Mộ Dung thị (慕容氏, ? - 341), con gái Mộ Dung Hối, em gái Mộ Dung Hoảng. Kết hôn năm 339, qua đời hai năm sau đó.
- Kế thất Mộ Dung thị (慕容氏), xuất thân tông tộc của chính thất, kết hôn năm 341.
- Tam kế thất Mộ Dung thị (慕容氏, ? - 360), con gái Mộ Dung Hoảng, rất được sủng ái, sinh bốn con trai, sau tặng Chiêu Thành Hoàng hậu (昭成皇后).
- Con trai:
- Thác Bạt Thực Quân (拓跋寔君, ? - 376), trưởng tử, con của thứ thiếp. Tính cách tàn bạo, sau giết cả Thập Dực Kiền lẫn các em trai rồi bị xử tử.
- Thác Bạt Thực (拓跋寔, ? - 371), mẹ là Tam kế thất Mộ Dung thị, bị Trưởng Tôn Cân giết. Lấy con gái của Hà Dã Can (贺野干) và em gái Liêu Tây công chúa, sinh Bắc Ngụy Đạo Vũ Đế, sau truy tôn Hiến Minh Hoàng đế (獻明皇帝).
- Thác Bạt Hàn (拓跋翰), mẹ là Tam kế thất Mộ Dung thị, tặng Tần vương (秦王).
- Thác Bạt Át Bà (拓跋阏婆, ? - 376), mẹ là Tam kế thất Mộ Dung thị, bị Thác Bạt Thực Quân giết.
- Thác Bạt Lực Chân (拓跋力真), thất tử, bị quân Tiền Tần giết cùng các con trai, tặng Bành Thành vương (彭城王).
- Thác Bạt Thọ Cưu (拓跋壽鳩), bát tử, mẹ là Tam kế thất Mộ Dung thị. Lấy vợ là Vương thị (王氏) xuất thân hoàng tộc Ô Hoàn, bị quân Tiền Tần giết, tặng Trường Sơn vương (常山王).
- Thác Bạt Hột Căn (拓跋紇根), cửu tử, bị quân Tiền Tần giết, tặng Thanh Hà Hoàn vương (清河桓王).
- Thác Bạt Địa Căn (拓跋地干)
- Thác Bạt Quật Đốt (拓跋窟咄, ? - 386), trong chiến loạn thì di chuyển đến Tây Yên, phong Tân Hưng quận Thái thú. Sau về với Bắc Ngụy, nổi loạn nên bị Lưu Vệ Thần (刘卫辰) xử tử.
- Con gái:
- Trưởng nữ (? - 389), mẹ là Tam kế thất Mộ Dung thị, phong Liêu Tây Công chúa (辽西公主), lấy anh em họ là Hà Dã Can (贺野干), sinh hai con trai và hai con gái.
- Hạ Nột (贺讷), tặng An Viễn tướng quân.
- Hạ Lan thị (351 - 396), lấy chú là Thác Bạt Thực, sinh Bắc Ngụy Đạo Vũ Đế, tặng Hiến Minh Hoàng hậu (献明皇后).
- Hạ Nhiễm Can (贺染干), phong Mã Ấp công (马邑公), nhậm Phụ quốc Tướng quân.
- Hạ Lô (賀盧), phong Quảng Ninh vương (广宁王).
- Hạ Lan thị, phi tần của Bắc Ngụy Đạo Vũ Đế, nhan sắc mỹ miều, phong Phu nhân (夫人), sinh Thác Bạt Thiệu.
- Nhị nữ, lấy Lưu Vũ Hoàn (劉務桓), cháu trai là Hách Liên Bột Bột.
- Tam nữ, lấy con trai của Vương Kiến.
- Tứ nữ, lấy Vương Kiến.[1]
- Ngũ nữ, lấy Kê Căn (嵇根), sinh Kê Bạt (嵇拔). Kê Bạt lấy Hoa Âm công chúa (华阴公主) - con gái Đạo Vũ Đế.
- Lục nữ, lấy Lưu Vệ Thần (劉衛辰), sinh Hách Liên Bột Bột.
- Trưởng nữ (? - 389), mẹ là Tam kế thất Mộ Dung thị, phong Liêu Tây Công chúa (辽西公主), lấy anh em họ là Hà Dã Can (贺野干), sinh hai con trai và hai con gái.
Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]- ^ 《资治通鉴》卷一百零六:王建娶代王什翼犍之女。