Thư viện Jagiellońska

Plan icon WHITE-01.svgThư viện Jagiellońska
Herb Uniwersytetu Jagiellońskiego.svg
100 3497.JPG
Quốc gia Ba Lan
Loại hình Thư viện quốc gia
Thành lập 1364 (659 năm trước) (1364)
Địa điểm Kraków
Tọa độ 50°03′41″B 19°55′25″Đ / 50,0615°B 19,9236°Đ / 50.0615; 19.9236
Lưu trữ
Trữ lượng 6,603,824[1]
Độc giả
Lưu hành 600,198 trong phòng đọc và bên ngoài
Hành chính
Giám đốc Prof. dr hab. Zdzisław Pietrzyk
Web

Thư viện Jagiellonia (tiếng Ba Lan: Biblioteka Jagiellońska, tên phổ biến Jagiellonka) là thư viện của Đại học JagielloniaKraków và với gần 6.7 triệu đầu sách, đây là một trong những thư viện lớn nhất Ba Lan, được phục vụ như một thư viện công cộng, thư viện trường đại học và là một phần của hệ thống thư viện quốc gia Ba Lan.[2] Thư viện có một bộ sưu tập lớn các thủ bản Thời kỳ Trung Cổ, chẳng hạn như De Revolutionibus của Copernicus' và Banderia Prutenorum của Jan Długosz, và một bộ sưu tập lớn khác của văn học underground (còn được gọi là drugi obieg hay samizdat) từ thời kỳ Cộng hòa Nhân dân Ba Lan (1945–1989). Thư viện Jagiellonia còn chứa trong mình bộ sưu tập nghệ thuật Berlinka mà tư cách pháp nhân của nó đang bị tranh chấp với nước Đức.[3]

Bộ sưu tập[sửa | sửa mã nguồn]

Biblioteka Jagiellońska
Copernicus' De Revolutionibus is one of many valuable possessions of the library

Thư viện Jagiellonia là một trong những thư viện rộng và nổi tiếng nhất của Ba Lan; trong suốt lịch sử của mình, thư viện đã nhận được nhiều đóng góp và được kế thừa nhiều bộ sưu tập cá nhân.[4]

Bộ sưu tập của thư viện gồm 1,503,178 đầu sách chuyên khảo, 557,199 tập xuất bản phẩm định kỳ, 104,012 quyển sách in sớm, 3,586 incunabula, 24,258 thủ bản, 12,819 bản đồ, 35,105 bản nhạc, và 77,336 microforms.[4] Trong số đó có nhiều bản nhạc có bút tích gốc của Mozart.

Đáng chú ý có các đầu sách quý hiếm thuộc sở hữu của thư viện như:

Trong những năm từ 1990, rất nhiều đầu sách vô giá đã bị đánh cắp khỏi thư viện, được cho là để bán ở the West. Năm 1999, các tác phẩm của Galileo, Johannes KeplerBasilius Bessarion đã bị đánh cắp; một số đã được thu hồi từ một cuộc đấu giá tại ở Đức.

Tòa nhà thư viện[sửa | sửa mã nguồn]

Tòa nhà hiện tại của thư viện tọa lạc tại Al. Mickiewicza 22, được xây dựng trong những năm 1931-1939 và mở rộng hai lần vào các năm 1961-1963 và 1995-2001.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Website of the library, “Archived copy”. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2010.Quản lý CS1: bản lưu trữ là tiêu đề (liên kết), last accessed ngày 20 tháng 8 năm 2010
  2. ^ Thư viện quốc gia chính thức của Ba Lan là Thư viện quốc gia Ba Lan nằm ở Warsaw; tuy nhiên Thư viện Jagiellonia được xem là một phần của Narodowy Zasób Biblioteczny. Nơi đây từng là Thư viện Quốc gia trước khi thành lập Thư viện chính thức ở Warsaw, và ngày nay, thư viện lưu trữ bộ sưu tập sách của Thư viện Quốc gia giai đoạn trước 1801.
  3. ^ Hermes Malopolska, Zbiory Berlinki w Krakowie Lưu trữ 2012-03-04 tại Wayback Machine, last accessed ngày 18 tháng 8 năm 2010
  4. ^ a b Visiting the Biblioteka Jagiellonska (Jagiellonian Library) in Cracow Lưu trữ 2005-09-08 tại Wayback Machine. Last accessed on ngày 4 tháng 5 năm 2007.

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • * Maria J. Nowak (Winter 1997). “The History of the Jagiellonian Library”. Libraries & Culture. USA. 32.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]