Thể loại:Nghệ thuật

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

NGUYỄN LÂM - Cuộc đời và sự nghiệp

(Một bài viết tuyệt vời đầy đủ về họa sĩ Nguyễn Lâm của NNC Phạm Công Luận. Bài in trên TCMT số Xuân Canh Tý 2020)

#TapchiMythuatSoTetCanhTy2020

Trong các thành viên hội Họa sĩ Trẻ nổi tiếng ở Sài Gòn trước 1975, họa sĩ Nguyễn Lâm cùng với họa sĩ Hồ Hữu Thủ đeo đuổi chất liệu sơn mài dài lâu và thành công nhất. Tuy vậy, con đường đến với nghệ thuật sơn mài của họa sĩ Hồ Hữu Thủ khá tự nhiên, khi ông sinh ra lớn lên, học ở trường mỹ nghệ ở Bình Dương là cái nôi sơn mài của miền Nam. Trong khi đó, họa sĩ Nguyễn Lâm thành danh với chất liệu sơn dầu từ sớm khi vẫn còn đang học Cao đẳng Mỹ thuật Sài Gòn và đến với sơn mài như tìm được cứu cánh cho cuộc sống đang gặp khó khăn. Bằng các con đường khác nhau, hai ông đều đi tới đích trong chất liệu này.

Tuổi nhỏ ở Cần Thơ

Đầu thập niên 1940, có một gia đình sống trong ngôi nhà vừa là xưởng tiện cơ khí trên đường Nguyễn Công Trứ, thị xã Cần Thơ. Gia chủ giỏi nghề tiện, làm được nhiều chi tiết máy móc cần kỹ thuật cao. Vợ của ông trước là giáo viên, sau chuyển sang buôn bán ngoài chợ.

Con của ông bà, chú bé Lâm Huỳnh Long, sau này là họa sĩ Nguyễn Lâm, sinh ra năm 1941 tại thị xã êm đềm đó. Lớn lên, Long đi học trường tiểu học cách nhà vài cây số. Đang học tiểu học, Long phải bỏ dở vì cha bị chính quyền thực dân buộc vào lính thuộc địa. Ông bỏ Cần Thơ, đưa vợ con trốn về tuốt miệt Cà Mau, lúc đó còn hoang sơ. Ông theo những người kháng chiến và do có nghề tiện kim loại, được giao làm giám đốc công binh xưởng chế tạo vũ khí.

Mấy năm sau, tình hình êm hơn nên ông đưa vợ con trở lại Cần Thơ. Chú bé Long lúc đó đã mười tuổi, mất mấy năm tiểu học vì xa nhà, phải đi học lại.

Mỗi ngày đi học, chú bé ngang qua rạp xi-nê, nhiều lần dừng lại, ngắm các bức pa-nô vẽ các tài tử Mỹ nổi tiếng. Đó là Liz Taylor, Richard Burton, Robert Taylor... Long lờ mờ nhận ra rằng chỉ với màu bột và vài cây cọ, ông thợ vẽ có thể tạo nên những bức tranh gây ấn tượng mạnh như vậy. Mỗi ngày, chú bé chịu khó đi sớm nửa giờ, đến rạp và chui đầu vào ô cửa sắt cổng để nhìn cho rõ chi tiết từng bức tranh.

Giống như nhiều học trò thích vẽ theo tranh, Long về nhà lục tìm báo cũ tìm tranh minh họa để vẽ. Long thích tranh của họa sĩ Hưng Hội, một họa sĩ minh họa rất chắc tay, đường nét gãy gọn, đẹp nhất là minh họa truyện dã sử với những người mang mũ mão cân đai. Long vẽ theo vài bức của ông trên một tờ báo xuân, trong đó có bức tựa đề “Cõng rắn cắn gà nhà” vẽ vua Lê Chiêu Thống cầu viện ngoại bang đưa chúng vào xâm lược đất nước. Thời gian đó, trên Sài Gòn có tổ chức cuộc thi vẽ dành cho học sinh trên toàn miền Nam, ban giám khảo toàn người có uy tín, trưởng ban là giáo sư hội họa Lê Văn Đệ, hiệu trưởng trường Cao đẳng Mỹ thuật Gia Định. Long gửi dự thi vài bức, trong đó có bức nhái lại bức “Cõng rắn cắn gà nhà” của Hưng Hội nhưng tô màu nước thật kỹ. Đến khi có kết quả, cả tỉnh Cần Thơ xôn xao vì mỗi mình Long ẵm tới hai gỉải, giải ba và giải nhất, đánh bại thí sinh các tỉnh. Đó là kỷ niệm vui, bước đầu tạo đà cho tương lai sau này.

Đến 15 tuổi, Long mới học xong tiểu học chương trình Pháp, quá muộn mằn so với mấy bạn. Đang suy tính chuyện đi xa học trung học, Long gặp lại vài bạn học cũ, trong đó có bạn đã học được mấy năm ở trường Vẽ Gia Định. Họ thường về chơi mỗi dịp hè, ăn trắng mặc trơn, lanh lợi như đi du học nước ngoài về. Thấy Long đang băn khoăn chuyện học lên, họ khuyên nên thi vào trường Mỹ nghệ Gia Định, hệ trung cấp đào tạo người vẽ ứng dụng. Vào đó học vài năm chắc chắn có nghề kiếm sống sau này, nhất là Long đã bị học trễ, theo đuổi học chữ thì đường đi quá dài. Nhớ lại cuộc thi vẽ hồi tiểu học, nghĩ mình có chút năng khiếu, Long xin ba mẹ cho thi theo gợi ý của bạn.

Ngày thi, Long lên Sài Gòn dự kỳ thi toàn quốc với hai môn vẽ hình họa và trang trí. Thi xong về nhà đợi kết quả. Đến ngày tựu trường, má Long bỏ việc buôn bán ở chợ, dắt con trai đón xe đò đi Gia Định. Thấy bà chuẩn bị đủ các thứ, Long thắc mắc, bà bảo: “Chuẩn bị đồ đạc để đậu thì con vô học luôn, còn nếu rớt.. mang đồ về!’.

Trước trường treo một bảng danh sách dài thí sinh trúng tuyển. Long chen vào xem, tin mình không dễ chọi với mấy trăm thí sinh hơn 60 tỉnh từ Quảng Trị trở vào nên chỉ xem khoảng giữa danh sách trở xuống. Không có tên. Long tiu nghỉu quay về nói với mẹ. Bà chen vô xem cũng không thấy tên thằng con. Hai mẹ con chán chường ngồi thừ ra, không biết làm gì. Người mẹ than thở: “Lo đủ thứ để đi học, giờ chẳng lẽ…!”. Ngồi cả buổi, hai mẹ con định quay ra bến xe về Cần Thơ, thì có đứa bạn gần nhà đang học ở đây đến hỏi. Bà buột miệng: “Con tao rớt rồi, không có tên!”. Anh kia chen vô xem lần nữa và khẳng định Long đã đậu, tới hạng nhì, điểm tới 16/20 điểm (sau này mới biết người hạng I, hơn Long nửa điểm là con rể của thầy K., hiệu trưởng của trường). Hai hai mẹ con do thiếu tự tin đã không dò nửa danh sách phía trên.

Biết tin đậu, mẹ dắt Long đi mướn nhà ở. Nhập học mới biết học bổng cho học sinh đậu bảy hạng cao nhất là 700 đồng, trong khi đó tiền nhà chỉ 300 đồng, còn lại 400 đủ ăn uống, mua đồ vẽ. Long từ chối nhận thêm tiền của mẹ cho hàng tháng.

Học từ 1956 đến 1959, chỉ còn vài tháng sẽ thi tốt nghiệp trường Mỹ nghệ, Long quyết định bỏ thi để kịp kỳ thi vào trường Cao đẳng Mỹ thuật Sài Gòn. Lúc đó, anh đã ý thức được mình phải đi theo con đường sáng tạo trong hội họa, không muốn chỉ là người thợ vẽ trang trí để kiếm sống. Anh đậu dự khuyết nhưng sau đó có người bỏ nên chuyển sang học chính thức.

Hai chuyến đi bất thành

Năm 1962, Lâm Huỳnh Long, đã có nghệ danh là Nguyễn Lâm khi còn đi học. Anh đã có tác phẩm trưng bày ở các gallery và bán được tranh. Tuy nhiên, ngồi trên ghế nhà trường, anh và các sinh viên trường mỹ thuật cùng thế hệ luôn nung nấu suy nghĩ về con đường sáng tác của mình. Những tác động từ sự phát triển mạnh mẽ của nghệ thuật thế giới được đọc qua sách báo nước ngoài, từ những cuộc giao lưu trong giới hội họa, từ cuộc triển lãm Mỹ thuật quốc tế tại vườn Tao Đàn lần thứ Nhất đầu năm 1962 khiến họ trăn trở, nghĩ đến lớp lớp sinh viên nối nhau học theo bài bản, nối bước nhau, dẫm chân lên nhau mà không tìm ra con đường sáng tạo riêng biệt. Đó là vấn đề cần phải tranh luận, trao đổi nhiều nhưng tuổi trẻ chỉ muốn thay đổi ngay. Năm đó, khi mới 21 tuổi và đã có vợ con, Nguyễn Lâm quyết định đi tìm một chân trời mới để học hỏi. Đó là Paris. Và anh tìm đường… vượt biên sang đó.

Anh và họa sĩ Phương Hùng, học trên anh một lớp và đồng hương Cần Thơ vạch ra đường sang Pháp. Kế hoạch là cả hai đi xe đò từ Sài Gòn xuống kinh Vĩnh Tế ở Châu Đốc. Ở đó sẽ móc nối người đưa sang biên giới, chịu tốn một số tiền. Qua tới Campuchia sẽ được xe molobécane chở đi thủ đô Nam Vang, chờ lúc thuận tiện xuống cảng Sihanoukville kiếm tàu sang Pháp.

Trước khi đi, Nguyễn Lâm đã sắp sẵn hết cho gia đình. Nhà có hơn trăm tấm tranh của anh, vẫn bán được liên tục, không lo về kinh tế. Tuy nhiên, Nguyễn Lâm không cho gia đình biết là mình tìm đường học vẽ tuốt bên Tây, sẽ mất nhiều năm nếu đi được.

Đi tới biên giới, gặp người đã móc nối để giúp vượt biên thì họ đòi giá là 17 ngàn đồng. Vì xe motobécane chỉ chở theo được một người nên Phương Hùng đi trước, hẹn sẽ đợi bên Nam Vang. Nguyễn Lâm ở lại Châu Đốc, chờ tuần sau sẽ đi chuyến thứ hai. Nhưng đợi mãi, có tin Phương Hùng bị bắt bên đó, chuyến đi vở lỡ. Nguyễn Lâm đành về Sài Gòn học tiếp.

Qua năm sau, chuyện vượt biên lại được xới lên, hâm nóng trở lại. Lần này, có sự tham dự của họa sĩ Nguyễn Trung, từng học trên Nguyễn Lâm một khóa và họa sĩ Nguyễn Phước học khóa sau. Trước đó, các anh đã tổ chức triển lãm tranh ở Phòng Thông tin đô thành số 165 đường Tự Do, bán được tranh và có tiền để dành cho chuyến đi. Họa sĩ Nguyễn Trung có danh sách những vị Lãnh sự, đại sứ nước ngoài từng mua tranh, mong rằng họ sẽ giúp đỡ. Lại xuống Châu Đốc theo tuyến cũ. Lần này đi ba người thì chiếc xe lại chở được hai người. Hai họa sĩ kia bày việc bốc thăm xem ai sẽ đi sau, trúng ngay Nguyễn Lâm nên phải đợi chuyến sau. Hai người kia qua biên giới, đụng ngay đợt hành quân dọc biên giới của lính Campuchia khi có một yếu nhân Trung quốc qua thăm. Cả hai bị bắt vì tội nhập cảnh bất hợp pháp. Vào nơi giam giữ, cả hai “đoàn tụ” với họa sĩ Phương Hùng trong đó, từ chuyến vượt biên năm trước. Nguyễn Lâm ở lại nhà trọ, lần lữa đợi từng tuần một để có chuyến đi, vậy mà mất đứt sáu tháng để rồi quay về học tiếp. Hai họa sĩ kia bị nhốt 11 tháng sau cũng được trả về. Riêng Họa sĩ Phương Hùng sau đó ra chiến khu hoạt động luôn.

Năm 1965, Nguyễn Lâm tốt nghiệp Cao đẳng Mỹ thuật Sài Gòn. Anh thuộc nhóm sinh viên từ khi mới vào học đã có tranh triển lãm và bán được tranh nên chu tất chuyện gia đình, không lo lắng tiền bạc. Năm 1966, anh tham gia Hội họa sĩ Trẻ. Tổ chức này ngày càng có tiếng và hoạt động tốt, thúc đẩy cảm hứng sáng tác cho hội viên. Hội đề ra mỗi năm phải có một lần triển lãm tác phẩm mới, phải luôn chú ý tìm tòi cái mới trong hội họavà họa sĩ nào có huy chương cấp quốc gia mới được tham gia Hội. Có trụ sở ngay trung tâm thành phố Sài Gòn, hội tổ chức bày tranh thường xuyên, luôn có khách hàng, bán được nhiều tranh, trong đó khách hàng là ông Nguyễn Ngọc Linh, giám đốc Việt Tấn Xã và Ngô Khắc Tỉnh, Bộ trưởng Giáo dục. Các anh em trong hội còn có một nơi khác để trưng bày tranh không tốn phí là khách sạn Continental do ông Philippe Franchini, một người yêu nghệ thuật làm chủ. Thời gian đó, họa sĩ Nguyễn Lâm vào lính nên không dự được nhiều sinh hoạt của hội nhưng ông vẫn sáng tác và treo tranh. Các họa sĩ trong hội tuy thân thiết gắn bó nhưng giữ cá tính riêng, độc lập trong sáng tác, hầu như ai cũng có huy chương, giải thưởng qua các cuộc triển lãm.

Năm 1970, họa sĩ Nguyễn Lâm được mời về dạy hội họa ở hội Việt Mỹ vì ông tốt nghiệp Cao đẳng mỹ thuật, có thể dạy ở lớp hội họa cấp cao mà trước đây do hai họa sĩ tốt nghiệp hệ trung cấp dạy. Cùng dạy với ông có các họa sĩ có tiếng như Hiếu Đệ, Trương Thị Thịnh, Trần Kim Hùng, Nguyễn Trí Minh,… cho đến năm 1975.

Bước ngoặc lớn đến với sơn mài

Sau năm 1975, họa sĩ Nguyễn Lâm phải đi học tập cải tạo trong ba năm. Sau đó, ông về làm việc cho công ty mỹ thuật thuộc Sở Văn hóa thông tin thành phố. Ông vẫn vẽ tranh sơn dầu, gửi cho một họa sĩ đưa ra nước ngoài bán để lo cho gia đình đông đúc.

Một hôm trong năm 1980, có điều bất ngờ đến sẽ tác động đến con đường sáng tác của ông sau này. Ông đang đạp xe trên đường Phạm Hồng Thái thì gặp người quen. Đó là họa sĩ sơn mài nổi tiếng Trương Văn Thanh, đồng sáng lập công ty sơn mài Thanh & Lễ là tiền thân của công ty mỹ nghệ khét tiếng Thành Lễ trước 1971. Lúc đó, ông Trương Văn Thanh đang hợp tác giúp Sở Ngoại thương thành phố sản xuất tranh sơn mài xuất khẩu qua các nước tư bản. Ông Thanh rủ Nguyễn Lâm cùng đi với ông gặp ông Ba Nên là người của Sở lo việc này. Ông Ba Nên sau khi hỏi thăm qua lại, đề nghị Nguyễn Lâm cùng làm tranh sơn mài để xuất sang Pháp, Đức, Bỉ. Số là Giám đốc Sở ngoại thương thời ấy là ông Mười Phi đi công tác sang Pháp đã gặp một người Pháp lai Việt tên là A-li Sa-lê. Ông Sa-lêsống ở Sài Gòn trước 1975, từng chơi thân với họa sĩ Nguyễn Trung và sau này khi sang Pháp, ông ta trở thành chủ gallery Maison du Vietnam. Ông ta cũng là người mua tranh từ Việt Nam mà Nguyễn Lâm có bán qua một họa sĩ trước đó. Ông Sa-lê kể với ông Mười Phi là lần trước ông về Việt Nam đã tìm cách liên lạc với các họa sĩ nổi tiếng ở Sài Gòn trước kia nhưng không được. Ông không biết rằng số họa sĩ đó có người đi học tập cải tạo, có người đi làm thợ hớt tóc vỉa hè, bán sách cũ… Sa-lê bảo: “Tôi biết bên đó có nhiều họa sĩ trẻ và giỏi. Anh về tìm kiếm họ, khuyến khích họ vẽ tranh lại, nhớ là tranh sơn mài, đóng thùng gởi sang, có bao nhiêu tôi mua hết!”. Ông Ba Nên đề nghị Nguyễn Lâm tổ chức nhóm họa sĩ như ý của ông Sa-lê, cho biết toàn bộ chi phí, nguyên vật liệu làm tranh, Sở ngoại thương lo hết. Nguyễn Lâm về tập hợp được một số họa sĩ nổi danh trước 1975, nhưng vì không quen làm tranh sơn mài, cách thể hiện không phù hợp nên một số vị không tiếp tục tham gia. Cuối cùng còn lại bảy người thực hiện dự án này gồm: Nguyễn Siên, Nguyễn Lâm, Hồ Hữu Thủ, Hiếu Đệ, Văn Đen, Nghiêu Đề và Đỗ Quang Em. Trừ có họa sĩ Nguyễn Siên là thầy dạy làm tranh sơn mài

tại trường Cao đẳng Mỹ thuật trước kia, hầu hết các họa sĩ còn lại lâu nayđều vẽ tranh bằng chất liệu sơn dầu. Họ chuyển sang làm tranh sơn mài để thích ứng công việc mới. Thời gian đó, kinh tế cả nước còn khó khăn nhưng nhóm họa sĩ này nhờ bán được tác phẩm giá cao, được tự định giá nên có thu nhập khá tốt. Họa sĩ Nguyễn Lâm nhớ là lúc đó, ông có tiền mua thêm căn nhà với giá hai lượng vàng, nuôi chín người con, hai bà mẹ hai bên và nửa chục đứa cháu vẫn thoải mái. Dự án kéo dài đến khoảng năm 1986 thì ngưng do việc kinh doanh của Sở Ngoại thương gặp khó khăn nên các họa sĩ quay lại sáng tác tự do theo hướng của mình. Riêng họa sĩ Nguyễn Lâm và Hồ Hữu Thủ đã bén duyên với sơn mài, biến thành dòng tranh chính của mình.

Nhìn lại con đường nghệ thuật

Họa sĩ Nguyễn Lâm theo học nghệ thuật lúc đất nước đã chuyển mình từ thuộc địa trở thành quốc gia độc lập. Từ lúc mới vào trường mỹ nghệ Gia Định, ông nhanh chóng có ý thức không học vẽ cốt lấy bằng cấp, có nghề nuôi sống mình nên dám bỏ kỳ thi tốt nghiệp trường mỹ nghệ sắp diễn ra để thi vào trường Cao đẳng mỹ thuật, theo con đường sáng tác nghệ thuật. Đến khi học năm cuối Cao đẳng mỹ thuật, ông cũng không ngần ngại bỏ ngang để đi tìm một chân trời nghệ thuật diệu vợi và đầy rủi ro ở tận xứ người, chỉ cốt học những khuynh hướng mới trong sáng tác. Khi cần chuyển hướng sáng tác từ chất liệu sơn dầu đã từng giúp ông thành công và nổi tiếng để chuyển sang sơn mài, ông đi theo và thành công, trở thành một trong vài họa sĩ đỉnh cao của miền Nam trong sáng tác tranh sơn mài ngày nay, từng được Lãnh sự quán Pháp, Thư viện tổng hợp và vài nhà sưu tập tranh mời phục chế tranh sơn mài của danh họa Nguyễn Gia Trí. Ông đoạt nhiều giải thưởng từ khi còn rất trẻ, triển lãm ở một số nước trên thế giới. Có thể nói cuộc đời ông viên mãn trong nghệ thuật, dù thuở đi học, ông không khao khát đi theo con đường nghệ thuật, mà nghệ thuật đã chọn ông, qua từng bước một.

Trong sáng tác, Nguyễn Lâm luôn nghĩ đến hướng đi mới, ban đầu mạnh về biểu hiện, sau chuyển sang trừu tượng và có thành quả. Ông thành công khi kết hợp được vẻ cổ điển và lộng lẫy của tranh sơn mài với nghệ thuật trừu tượng, biết điều khiển màu sắc, dùng vật liệu truyền thống và kỹ thuật của cá nhân để thể hiện nghệ thuật trừu tượng, tái tạo ảnh ảo về thế giới thực tại. Ông dẫn dắt tới bảy trên chín người con theo con đường hội họa, sáu người tốt nghiệp Đại học Mỹ thuật. Đến tuổi gần tám mươi, ông vẫn vẽ tranh hằng ngày, thực hiện nhiều bức sơn mài lớn. Ông cảm thấy hạnh phúc khi tất cả con cháu đều sống quây quần trong ba căn nhà sát cạnh nhau trong con hẻm ở Phú Nhuận. Những gì đạt được của họa sĩ Nguyễn Lâm trong cuộc đời và nghệ thuật nằm ở cá tính của ông, một người yêu nghệ thuật, thích sáng tạo, luôn đi tới cùng trong sáng tác và chuyên chú như một người thợ cả.

P.C.L

Thể loại con

Thể loại này gồm 35 thể loại con sau, trên tổng số 35 thể loại con.

 

B

Đ

G

H

K

L

M

N

P

S

T

V