Thanh trà

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Jump to navigation Jump to search
Thanh trà
Bouea macrophylla young fruit.JPG
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Plantae
(không phân hạng) Angiospermae
(không phân hạng) Eudicots
(không phân hạng) Rosids
Bộ (ordo) Sapindales
Họ (familia) Anacardiaceae
Chi (genus) Bouea
Meisner, 1837
Loài (species) B. macrophylla
Danh pháp hai phần
Bouea macrophylla
Griff., 1841

Thanh trà hay xoài mút[1] tức Bouea macrophylla là một loài thực vật có hoa trong họ Đào lộn hột. Loài này được Griff. mô tả khoa học đầu tiên năm 1841.[2] Bản địa thanh trà là bán đảo Mã LaiJava.[1]

Canh tác[sửa | sửa mã nguồn]

Thanh trà tương đối dễ trồng, ưa nắng. Tại Việt Nam thanh trà mọc hoang ở vùng Bảy Núi,[3] đến thập niên 1950 thì bắt đầu có mặt ở Cần Thơ[1] sau được trồng nhiều suốt từ An Giang xuôi xuống Vĩnh Long, Cần Thơ và được coi là đặc sản Miền Tây Nam Bộ. Cây từ 3 tuổi trở lên bắt đầu có trái.[4] Từ khi ra bông đến khi chín là khoảng ba tháng.[5] Mùa thu hoạch là từ tháng 12 đến tháng 4 là mùa rộ.[6]

Công dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Thanh trà là một loại cây ăn trái, có hai loại: ngọt và chua. Thanh trà ngọt trái màu vàng lợt, vỏ dày. Thanh trà chua màu vàng sẫm, vỏ mỏng. Vị thanh trà khi ngọt tương tự như xoài chín. Loại chua thường dùng nấu canh, làm gỏi, dầm muối ớt hay ngào đường ăn như mứt.

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]