Tiền nóng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm

Trong kinh tế học, tiền nóng là dòng tiền (hoặc vốn) từ nước này sang nước khác để kiếm lợi nhuận ngắn hạn do chênh lệch lãi suất và/ hoặc thay đổi tỷ giá hối đoái đoán trước. Những dòng vốn đầu cơ này được gọi là 'tiền nóng' vì chúng có thể di chuyển rất nhanh vào và ra khỏi thị trường, có khả năng dẫn đến sự bất ổn của thị trường.[1]

Minh họa về dòng tiền nóng[sửa | sửa mã nguồn]

Ví dụ đơn giản sau đây minh họa cho hiện tượng tiền nóng: Đầu năm 2011, lãi suất trung bình quốc gia của chứng chỉ tiền gửi một năm tại Hoa Kỳ là 0,95%. Ngược lại, lãi suất tiền gửi một năm của Trung Quốc là 3%. Đồng nhân dân tệ đang bị định giá thấp nghiêm trọng so với các loại tiền tệ giao dịch chính của thế giới và do đó có khả năng tăng giá so với đồng đô la Mỹ trong những năm tới. Với tình huống này, nếu một nhà đầu tư ở Mỹ gửi tiền của mình vào ngân hàng Trung Quốc, nhà đầu tư sẽ nhận được tiền lãi cao hơn so với việc họ gửi tiền vào ngân hàng Mỹ. Điều này làm cho Trung Quốc trở thành mục tiêu hàng đầu cho dòng tiền nóng. Đây chỉ là một ví dụ để minh họa. Trong thực tế, tiền nóng có nhiều hình thức đầu tư khác nhau.

Mô tả sau đây có thể giúp minh họa thêm cho hiện tượng này: "một quốc gia hoặc khu vực trong nền kinh tế thế giới gặp khủng hoảng tài chính, vốn chảy ra trong hoảng loạn; các nhà đầu tư tìm kiếm một điểm đến hấp dẫn hơn cho tiền của họ. Ở điểm đến tiếp theo, dòng vốn tạo ra một sự bùng nổ đi kèm với nợ nần tăng, giá tài sản tăng và tiêu dùng bùng nổ - trong một thời gian. Nhưng điều đáng buồn thường theo sau những dòng vốn này là một cuộc khủng hoảng khác. Một số nhà bình luận mô tả những mô hình này của dòng vốn như là "tiền nóng" lưu chuyển từ một ngành hoặc một quốc gia tới nơi tiếp theo và để lại phía sau dấu vết của sự hủy diệt."[2]

Các loại tiền nóng[sửa | sửa mã nguồn]

Như đã đề cập ở trên, vốn ở dạng sau có thể được coi là tiền nóng:

Các loại vốn trong các thể loại trên chia sẻ đặc điểm chung là thời gian đầu tư ngắn và chúng có thể đến nhanh và rời đi nhanh chóng.

Ước tính tổng giá trị[sửa | sửa mã nguồn]

Không có phương pháp nào được xác định rõ ràng để ước tính lượng tiền nóng chảy vào một quốc gia trong một khoảng thời gian, bởi vì tiền nóng lưu chuyển nhanh và được giám sát kém. Ngoài ra, một khi ước tính được thực hiện, số tiền nóng có thể đột ngột tăng hoặc giảm, tùy thuộc vào điều kiện kinh tế thúc đẩy dòng tiền. Một cách phổ biến để ước tính dòng tiền nóng là khấu trừ thặng dư (hoặc thâm hụt thương mại) của một quốc gia và dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ròng của quốc gia đó từ sự thay đổi trong dự trữ ngoại hối của quốc gia.[1]

Tiền nóng (ước tính) = Thay đổi dự trữ ngoại hối - Xuất khẩu ròng - Đầu tư trực tiếp nước ngoài ròng

Nguồn và nguyên nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền nóng thường có nguồn gốc từ các nước phát triển, giàu vốn có tốc độ tăng trưởng GDP thấp hơn và lãi suất thấp hơn so với tốc độ tăng trưởng GDP và lãi suất của các nền kinh tế thị trường mới nổi như Ấn Độ, Brazil, Trung Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ, Malaysia, v.v. Mặc dù các nguyên nhân cụ thể của dòng tiền nóng có phần khác nhau theo từng giai đoạn, nhưng nói chung những điều sau đây có thể được coi là nguyên nhân của dòng tiền nóng:[3]

  • Sự sụt giảm lãi suất kéo dài ở các nước phát triển công nghiệp hóa cao. Lãi suất thấp hơn ở các quốc gia phát triển thu hút các nhà đầu tư đến lợi suất đầu tư cao và cải thiện triển vọng kinh tế ở châu Á và châu Mỹ Latinh.
  • Xu hướng chung hướng tới đa dạng hóa quốc tế các khoản đầu tư vào các trung tâm tài chính lớn và hướng tới hội nhập ngày càng tăng của thị trường vốn thế giới.
  • Các nền kinh tế đang nổi lên bắt đầu áp dụng các chính sách tài khóa và tiền tệ hợp lý cũng như các cải cách định hướng thị trường bao gồm tự do hóa thương mại và thị trường vốn. Những cải cách chính sách như vậy, trong số những cải cách khác, đã dẫn đến sự gia tăng đáng tin cậy về tỷ suất lợi tức đầu tư.

Như mô tả ở trên, tiền nóng có thể ở các dạng khác nhau. Các quỹ phòng hộ, các quỹ đầu tư danh mục đầu tư khác và vay quốc tế của các tổ chức tài chính trong nước thường được coi là phương tiện truyền tải tiền nóng. Trong cuộc khủng hoảng tài chính Đông Á năm 1997 và trong cuộc khủng hoảng tài chính Nga năm 1998, "tiền nóng" chủ yếu đến từ các ngân hàng, chứ không phải từ các nhà đầu tư danh mục đầu tư.[4]

Tác động[sửa | sửa mã nguồn]

Dòng vốn có thể tăng phúc lợi bằng cách cho phép các hộ gia đình dàn xếp mức tiêu thụ theo thời gian và đạt được mức tiêu thụ cao hơn. Dòng vốn có thể giúp các nước phát triển đạt được sự đa dạng hóa quốc tế tốt hơn về danh mục đầu tư của họ.[3]

Tuy nhiên, dòng vốn lớn và đột ngột với thời hạn đầu tư ngắn hạn có tác động kinh tế vĩ mô tiêu cực, bao gồm mở rộng tiền tệ nhanh chóng, áp lực lạm phát, tăng tỷ giá hối đoái thực và thâm hụt tài khoản vãng lai. Đặc biệt, khi dòng vốn lớn đổ vào thị trường tài chính địa phương nhỏ và nông, tỷ giá có xu hướng tăng, giá tài sản tăng và giá hàng hóa địa phương bùng nổ. Những biến động giá tài sản thuận lợi này cải thiện các chỉ số tài khóa quốc gia và khuyến khích mở rộng tín dụng trong nước. Những điều này, đến lượt nó, làm trầm trọng thêm sự yếu kém cấu trúc trong khu vực ngân hàng trong nước. Khi tâm lý của các nhà đầu tư toàn cầu đối với các thị trường mới nổi thay đổi, dòng chảy đảo chiều và giá tài sản hoàn trả lại những gì kiếm được từ nó, thường buộc phải điều chỉnh đau đớn đối với nền kinh tế.[5]

Sau đây là chi tiết về những nguy hiểm mà tiền nóng mang lại cho nền kinh tế của đất nước tiếp nhận:

  • Dòng vốn vào khổng lồ với thời gian đầu tư ngắn (tiền nóng) có thể khiến giá tài sản tăng[5]lạm phát tăng. Dòng tiền vào lớn đột ngột của nước ngoài sẽ làm tăng tiền cơ sở của nước nhận (nếu ngân hàng trung ương đang cố định tiền tệ), điều này sẽ giúp tạo ra sự bùng nổ tín dụng. Điều này, đến lượt nó, sẽ dẫn đến một tình huống trong đó "quá nhiều tiền theo đuổi quá ít hàng hóa". Hậu quả của điều này sẽ là lạm phát. Hơn nữa, tiền nóng có thể dẫn đến tăng tỷ giá hối đoái hoặc thậm chí gây ra tình trạng tăng vọt tỷ giá hối đoái. Và nếu sự tăng giá tỷ giá này kéo dài dai dẳng, nó sẽ làm tổn hại đến khả năng cạnh tranh của lĩnh vực xuất khẩu của quốc gia tương ứng do làm cho xuất khẩu của nước này đắt đỏ hơn so với hàng hóa và dịch vụ tương tự của nước ngoài.[6]
  • Dòng tiền nóng thoát ra đột ngột, điều chắc chắn sẽ luôn xảy ra, sẽ làm giảm giá tài sản và có thể gây ra sụp đổ giá trị của đồng tiền của quốc gia tương ứng. Điều này đặc biệt đúng là như vậy với các nước có tài sản thanh khoản quốc tế tương đối khan hiếm. Ngày càng có nhiều sự tán thành cho rằng đây là trường hợp của cuộc khủng hoảng tài chính Đông Á năm 1997. Trước cuộc khủng hoảng, các công ty và doanh nghiệp tư nhân ở Hàn Quốc, Thái Lan và Indonesia đã tích lũy một lượng lớn nợ nước ngoài ngắn hạn (một loại tiền nóng). Ba nước chia sẻ một đặc điểm chung là có tỷ lệ nợ nước ngoài ngắn hạn lớn so với dự trữ quốc tế. Khi vốn bắt đầu thoát ra, nó đã gây ra sự sụp đổ về giá tài sản và tỷ giá hối đoái. Sự hoảng loạn tài chính đã tự nuôi chính nó, khiến các chủ nợ nước ngoài thu hồi các khoản cho vay và người gửi tiền rút tiền từ ngân hàng. Tất cả những điều này đã khuếch đại tính mất thanh khoản của hệ thống tài chính trong nước và buộc phải thực hiện một đợt thanh lý tài sản tốn kém và giảm phát giá. Ở cả ba quốc gia này, các tổ chức tài chính trong nước đã đi đến bờ vực vỡ nợ đối với nghĩa vụ ngắn hạn bên ngoài của họ.[7] Tuy nhiên, một số nhà kinh tế và chuyên gia tài chính cho rằng tiền nóng cũng có thể đóng vai trò tích cực ở các quốc gia có mức dự trữ ngoại hối tương đối thấp, bởi vì dòng vốn vào có thể tạo cơ hội hữu ích cho các quốc gia này để tăng cường nắm giữ dự trữ của ngân hàng trung ương.[8]

Kiểm soát[sửa | sửa mã nguồn]

Nói chung, với lãi suất tương đối cao so với các nền kinh tế thị trường phát triển, các nền kinh tế thị trường mới nổi là điểm đến của tiền nóng. Mặc dù các nước thị trường mới nổi hoan nghênh dòng vốn đầu tư như đầu tư trực tiếp nước ngoài, vì tác động tiêu cực của tiền nóng đối với nền kinh tế, họ đang tiến hành các chính sách để ngăn chặn "tiền nóng" xâm nhập vào nước họ để loại bỏ các hậu quả tiêu cực.

Các quốc gia khác nhau đang sử dụng các phương pháp khác nhau để ngăn chặn dòng tiền nóng khổng lồ. Sau đây là các phương pháp chính để đối phó với tiền nóng.[8]

  • Tăng tỷ giá hối đoái: Tỷ giá hối đoái có thể được sử dụng như một công cụ để kiểm soát dòng tiền nóng. Nếu tiền tệ được cho là bị định giá thấp, đó sẽ là một nguyên nhân của dòng tiền nóng. Trong hoàn cảnh như vậy, các nhà kinh tế thường đề xuất một sự định giá cao một lần đáng kể thay vì tăng dần tỷ giá hối đoái, vì sự tăng giá dần dần của tỷ giá sẽ thu hút nhiều tiền nóng hơn vào nước này. Một nhược điểm của phương pháp này là tăng tỷ giá sẽ làm giảm khả năng cạnh tranh của lĩnh vực xuất khẩu.
  • Giảm lãi suất: Các quốc gia áp dụng chính sách này sẽ hạ lãi suất chuẩn của ngân hàng trung ương của họ để giảm động lực cho dòng vốn vào. Ví dụ, vào ngày 16 tháng 12 năm 2010, Ngân hàng Trung ương Thổ Nhĩ Kỳ đã làm thị trường ngạc nhiên khi cắt giảm lãi suất tại thời điểm lạm phát gia tăng và tăng trưởng kinh tế tương đối cao. Erdem Basci, phó thống đốc Ngân hàng Trung ương Thổ Nhĩ Kỳ lập luận rằng việc cắt giảm lãi suất dần dần là cách tốt nhất để ngăn chặn dòng vốn quá mức làm tăng bong bóng tài sản và tăng giá tiền tệ.[9] Vào ngày 14 tháng 2 năm 2011, Mehmet Simsek, Bộ trưởng Tài chính Thổ Nhĩ Kỳ cho biết: Khoản đầu tư ngắn hạn hơn 8 tỷ USD đã rời khỏi đất nước sau khi ngân hàng trung ương cắt giảm lãi suất và thực hiện các bước để làm chậm tăng trưởng tín dụng. Các thị trường đã nhận được thông điệp rằng Thổ Nhĩ Kỳ không muốn dòng tiền nóng chảy vào[10]
  • Kiểm soát vốn: Một số chính sách kiểm soát vốn được Trung Quốc áp dụng thuộc danh mục này. Ví dụ, ở Trung Quốc, chính phủ không cho phép các quỹ nước ngoài đầu tư trực tiếp vào thị trường vốn của mình. Ngoài ra, ngân hàng trung ương Trung Quốc đặt ra hạn ngạch cho các tổ chức tài chính trong nước trong sử dụng nợ nước ngoài ngắn hạn và ngăn các ngân hàng lạm dụng hạn ngạch của họ.[11] Vào tháng 6 năm 1991, chính phủ Chile đã đưa ra yêu cầu dự trữ 20% không trả thù lao (không trả tiền) để gửi tại Ngân hàng Trung ương trong thời gian một năm đối với các khoản nợ bằng ngoại tệ, đối với các công ty đang vay trực tiếp bằng ngoại tệ.[12]
  • Tăng yêu cầu dự trữ ngân hàng và cách ly: Một số quốc gia theo đuổi chính sách hệ thống tỷ giá hối đoái cố định. Trong bối cảnh dòng vốn vào ròng lớn, những quốc gia đó sẽ can thiệp vào thị trường ngoại hối để ngăn chặn tăng tỷ giá hối đoái. Sau đó, cách ly tác động tiền tệ của sự can thiệp thông qua các hoạt động thị trường mở và thông qua việc tăng yêu cầu dự trữ ngân hàng.[13] Ví dụ, khi tiền nóng có nguồn gốc từ Mỹ đổ vào Trung Quốc, nhà đầu tư sẽ bán đô la Mỹ và mua nhân dân tệ tại thị trường ngoại hối. Điều này sẽ gây áp lực lên giá trị của đồng nhân dân tệ. Để ngăn chặn sự tăng giá của đồng tiền Trung Quốc, ngân hàng trung ương Trung Quốc đã in nhân dân tệ để mua đô la Mỹ. Điều này sẽ làm tăng cung tiền ở Trung Quốc, từ đó sẽ gây ra lạm phát. Sau đó, ngân hàng trung ương Trung Quốc phải tăng yêu cầu dự trữ ngân hàng hoặc phát hành trái phiếu chính phủ Trung Quốc để thu lại số tiền trước đây đã phát hành ra thị trường trong hoạt động can thiệp tỷ giá hối đoái. Tuy nhiên, giống như các phương pháp khác, phương pháp này cũng có những hạn chế. Đầu tiên, ngân hàng trung ương không thể tiếp tục tăng dự trữ ngân hàng, vì làm như vậy sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến lợi nhuận của ngân hàng. Thứ hai, trong các nền kinh tế thị trường mới nổi, thị trường tài chính trong nước không đủ sâu để các hoạt động thị trường mở có hiệu quả.
  • Thắt chặt tài khóa: Ý tưởng là sử dụng biện pháp kiềm chế tài khóa, đặc biệt là dưới hình thức cắt giảm chi tiêu đối với các khoản không mua bán xa hay quốc tế được (non-tradables), để giảm tổng cầu và kiềm chế tác động lạm phát của dòng vốn vào.[14]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă CRS Report for Congress, ngày 21 tháng 7 năm 2008: China’s “Hot Money” Problems, by Micheal F. Martin and Wayne M. Morrison
  2. ^ Hot Money and Serial Financial Crises, Anton Korinek, IMF Economic Review (2011)
  3. ^ a ă Inflows of Capital to Developing Countries in the 1990s, by Calvo, Leiderman, Reinhart, Journal of Economic Perspective 1996
  4. ^ Hot Money, by Martin N.Baily, Diana Farrell & Susan Lund, May 2000, McKinsey Quarterly
  5. ^ a ă Capital Flow Bonanzas: An Encompassing View of the Past and Present, by Carmen M. Reinhart and Vincent R. Reinhart, NBER Working Paper No. 14321, September 2008
  6. ^ Ricardo J. Caballero, Guido Lorenzoni, 2007. Persistent Appreciation and Overshooting: A Normative Analysis. (MIT and NBER)
  7. ^ Short Term Capital Flows, by Dani Rodrik, Andres Velasco, 1999 NBER
  8. ^ a ă Capital Inflows: The Role of Controls, IMF Staff Position Note, ngày 19 tháng 2 năm 2010
  9. ^ Turkey surprises with interest rate cut, by Delphine Strauss, Financial Times, ngày 16 tháng 12 năm 2010
  10. ^ Simsek Says $8 Billion ‘Hot Money’ Left Turkey, by Steve Bryant, Bloomberg News, Feb 14, 2011
  11. ^ China enhances efforts to curb hot money inflow, China Daily, ngày 9 tháng 11 năm 2011
  12. ^ Controls on Short-Term Capital Inflows - The Latin American Experience and Lessons For DMCs, by Pradumna B. Rana. Asian Development Bank, Economics and Development Resource Center Briefing Notes, 1998
  13. ^ Capital Inflows: Macroeconomic Implications and Policy Responses, by Roberto Cardarelli, Selim Elekdag, M. Ayhan Kose, IMF Working Paper, March 2009
  14. ^ Capital Flows in the APEC Region (book), edited by Mohsin S. Khan, Carmen M. Reinhart. International Monetary Fund, March 1995