Tonique Williams-Darling

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Tonique Williams-Darling
Thành tích huy chương
Điền kinh nữ
Đại diện cho  Bahamas
Olympic Games
Huy chương vàng – vị trí thứ nhất 2004 Athens 400 m
Giải vô địch Điền kinh Thế giới IAAF
Huy chương vàng – vị trí thứ nhất 2005 Helsinki 400 m
Giải vô địch trong nhà IAAF thế giới
Huy chương đồng – vị trí thứ ba 2004 Budapest 400 m
Đại hội thể thao Khối Thịnh vượng chung
Huy chương bạc – vị trí thứ hai 2006 Melbourne 400 m
Giải vô địch Điền kinh Trung Mỹ và Caribe
Huy chương vàng – vị trí thứ nhất 2005 Nassau 400 m
Huy chương bạc – vị trí thứ hai 1999 Bridgetown 400 m
Huy chương bạc – vị trí thứ hai 2005 Nassau 4 x 400 m tiếp sức
Huy chương đồng – vị trí thứ ba 2003 St.George's 200 m
CARIFTA Games
(U20)
Huy chương vàng – vị trí thứ nhất 1995 George Town 4 x 100 m tiếp sức
Huy chương bạc – vị trí thứ hai 1992 Nassau
Huy chương bạc – vị trí thứ hai 1993 Fort-de-France 4 x 100 m tiếp sức
Huy chương bạc – vị trí thứ hai 1993 Fort-de-France 4 x 400 m tiếp sức
Huy chương bạc – vị trí thứ hai 1994 Bridgetown 400m
Huy chương bạc – vị trí thứ hai 1994 Bridgetown 4 x 100 m tiếp sức
Huy chương bạc – vị trí thứ hai 1994 Bridgetown 4 x 400 m tiếp sức
Huy chương bạc – vị trí thứ hai 1995 George Town 400m
Huy chương bạc – vị trí thứ hai 1995 George Town 4 x 400 m tiếp sức

Tonique Williams-Darling (Sinh ngày 17 tháng 1 năm 1976) tại Nassau, Bahamas) là một vận động viên chạy nước rút người Bahamas. Cô dành huy chương vàng tại Thế vận hội Mùa hè 2004 nội dung 400 m. Cô tốt nghiệp trường cao đẳng St. John's Bahamas (trường trung học).

Học vấn[sửa | sửa mã nguồn]

Cô đã theo học tại Đại học Nam Carolina, tốt nghiệp với bằng cử nhân từ Trường kinh doanh Moore vào năm 1999.

Thi đấu chuyên nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Williams-Darling đã có một năm đột phá vào năm 2004. Cô bắt đầu với huy chương đồng tại Giải vô địch trong nhà IAAF thế giới 2004 tại Budapest, Hungary, chỉ thua thành tích vận động viên người Nga Natalya NazarovaOlesya Krasnomovets. Sau đó, vào tháng 7, tại cuộc thi tại Rome của IAAF Golden League, Tonique đã dành chiến thắng nội dung 400 mét sau khi đánh bại vận động viên người México Ana Guevara.

Tại Thế vận hội mùa hè 2004Athens, Hy Lạp Williams-Darling đánh bại Guevara một lần nữa. Trong trận chung kết, cô tỏ rõ sức mạnh so với vận động viên México, người bị cản trở bởi chấn thương và chỉ được huấn luyện mức hạn chế trước Thế vận hội. Cô trở thành vận động viên đầu tiên dành huy chương vàng Thế vận hội cho Bahamas.

Sau Thế vận hội, cô đã giành được chiến thắng trong giải Jackpot tổng của Golden League, kiếm được số tiền 500.000 USD sau khi chia đôi 1 triệu USD với Christian Olsson.

Cô cũng giành được huy chương vàng trong nội dung 400 m tại Giải vô địch Điền kinh Thế giới IAAF 2005 trong trận chung kết đối đầu với vận động viên Sanya Richards. Tại Đại hội thể thao Khối Thịnh vượng chung mặc dù được đánh giá cao, cô lại bị đánh bại bất ngờ trong trận chung kết bởi Christine Ohuruogu và chỉ dành được huy chương bạc.

Williams-Darling mất mùa giải 2007 để điều trị chấn thương gân kheo[1] và không cạnh tranh trong mùa giải 2008.

Vào tháng 11 năm 2012, cô được bầu làm Giám đốc Quan hệ Công chúng của Hiệp hội Thể thao Bahamas (BAAA) cho nhiệm kỳ 2012-2015.[2]

Thông tin khác[sửa | sửa mã nguồn]

Cô kết hôn với đồng nghiệp, vận động viên Bahamas Dennis Darling

Đối với những thành tựu của cô cho đến nay, Chính phủ Bahamas đã tôn vinh Tonique bằng cách đặt tên một đường cao tốc chính là "Đường cao tốc Tonique Williams-Darling".

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Tonique takes the year off”. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 8 năm 2007. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2007. 
  2. ^ Williams, Tonique (ngày 13 tháng 12 năm 2012), BAAA Introduces New Executives and Council Members, Bahamas Weekly, truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2013 [liên kết hỏng]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]