Trưng cầu dân ý độc lập Croatia, 1991

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trưng cầu dân ý độc lập Croatia, 1991
Tổng số cử tri 3.652.225
Tham gia (83.56%) 3.051.881
Ủng hộ chủ quyền và
độc lập của Croatia
Phương án bỏ phiếu Số phiếu  %
Đồng ý 2.845.521 93,24
Từ chối 126.630 4,15
Ủng hộ Croatia vẫn
trong Nam Tư liên bang
Phương án bỏ phiếu Số phiếu  %
Đồng ý 164.267 5,38
Từ chối 2.813.085 92,18
Nguồn: Ủy ban bầu cử quốc gia[1]

Croatia tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý độc lập vào ngày 19 tháng 5 năm 1991, tiếp sau bầu cử quốc hội Croatia năm 1990 và phát sinh các căng thẳng dân tộc vốn khiến cho Nam Tư tan rã. 83% số cử tri đi bỏ phiếu, và có 93% trong số đó tán thành độc lập. Sau đó, vào ngày 25 tháng 6 năm 1991, Croatia tuyên bố độc lập và hủy bỏ liên kết giữa bản thân với Nam Tư, tuy nhiên họ đình hoãn quyết định này ba tháng theo khuyến nghị của Cộng đồng châu Âu và Hội nghị về An ninh và Hợp tác tại châu Âu thông qua Hiệp định Brioni. Chiến tranh tại Croatia leo thang trong thời gian đình hoãn, và đến ngày 8 tháng 10 năm 1991, Quốc hội Croatia đoạn tuyệt mọi quan hệ còn lại với Nam Tư. Năm 1992, Cộng đồng Kinh tế châu Âu và Liên Hiệp Quốc công nhận ngoại giao Croatia.

Bối cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Croatia trở thành một đơn vị liên bang của Cộng hòa Liên bang Xã hội chủ nghĩa Nam Tư. Những người cộng sản cầm quyền tại Croatia, và nước cộng hòa được hưởng một mức độ tự trị trong Nam Tư liên bang. Năm 1967, một nhóm các tác giả và nhà ngôn ngữ học người Croatia ban bố Tuyên ngôn về vị thế và danh xưng của ngôn ngữ văn học Croatia, yêu cầu quyền tự chủ lớn hơn cho ngôn ngữ Croatia.[2] Tuyên bố góp phần vào một phong trào dân tộc nhằm có được nhiều hơn về dân quyền và phân quyền hóa kinh tế Nam Tư, đỉnh cao là Mùa xuân Croatia năm 1971, song bị giới lãnh đạo Nam Tư trấn áp.[3] Tuy nhiên, Hiến pháp Nam Tư 1974 tăng quyền tự trị cho các đơn vị liên bang, về bản chất đáp ứng một trong các mục đích của Mùa xuân Croatia và cung cấp cơ sở pháp lý về độc lập của các thành phần liên bang.[4]

Trong thập niên 1980, chính cục tại Nam Tư bị xấu đi, với căng thẳng dân tộc bị thổi bùng do Giác thư SANU 1986 của người Serbia và các cuộc đảo chính năm 1989 tại Vojvodina, KosovoMontenegro.[5][6] Trong tháng 1 năm 1990, Liên đoàn những người Cộng sản Nam Tư tan rã theo ranh giới dân tộc, khi phái Croatia yêu cầu một liên bang thả lỏng hơn.[7] Trong cùng năm đó, bầu cử đa đảng lần đầu tiên được tổ chức tại Croatia, Franjo Tuđman giành thắng lợi khiến căng thẳng dân tộc đi xa hơn.[8] Những người Serb dân tộc chủ nghĩa tại Croatia tẩy chay Quốc hội Croatia và đoạt quyền kiểm soát lãnh thổ người Serb cư trú, đặt chướng ngại vật trên đường và bỏ phiếu ủng hộ các khu vực này tự trị. Các tỉnh tự trị Serb nhanh chóng thống nhất thành nước Cộng hòa Serbia Krajina (RSK) không được quốc tế công nhận,[9][10] với ý định giành độc lập từ Croatia.[11][12]

Trưng cầu dân ý và tuyên bố độc lập[sửa | sửa mã nguồn]

Áp phích trưng cầu dân ý 1991

Ngày 25 tháng 4 năm 1991, Quốc hội Croatia quyết định tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý độc lập vào ngày 19 tháng 5. Quyết định được công bố trên công báo của nước Cộng hòa Croatia và công bố chính thức vào 2 tháng 5 năm 1991.[13] Cuộc trưng cầu dân ý có hai câu hỏi. Câu hỏi thứ nhất là Croatia có nên trở thành một quốc gia có chủ quyền và độc lập, đảm bảo quyền tự trị văn hóa và dân quyền cho người Serb và các dân tộc thiểu số khác tại Croatia, tự do thiết lập một liên hiệp các quốc gia chủ quyền với các nước cộng hòa Nam Tư cũ khác. Câu hỏi thứ hai là Croatia có nên ở lại Nam Tư với vị thế một quốc gia thuộc liên bang thống nhất.[13][14] Nhà cầm quyền người Serb địa phương kêu gọi tẩy chay bỏ phiếu, người Serb tại Croatia phần lớn nghe theo lời kêu gọi này.[15] Trưng cầu dân ý được tổ chức tại 7.691 điểm bỏ phiếu, các cử tri được trao các lá phiếu màu xanh và đỏ. Kết quả về đề xuất Croatia độc lập thể hiện trên lá phiếu màu xanh được thông qua với 93,24% ủng hộ, 4,15% phản đối, và 1,18% phiếu không hợp lệ hoặc trống. Câu hỏi về việc Croatia nên ở lại Nam Tư bị bác bỏ với 5,38% ủng hộ, 92,18% phản đối và 2,07% phiếu không hợp lệ. Tỷ lệ bỏ phiếu là 83.56%.[1]

Croatia sau đó tuyên bố độc lập và hủy bỏ liên kết giữa bản thân với Nam Tư vào ngày 25 tháng 6 năm 1991.[16][17] Cộng đồng Kinh tế châu Âu và Hội nghị An ninh và Hợp tác tại châu Âu khuyến nghị nhà cầm quyền Croatia đình hoãn ba tháng đối với quyết định.[18] Croatia chấp thuận đóng băng tuyên bố độc lập của mình trong ba tháng, ban đầu giúp tình hình bớt căng thẳng.[19] Tuy nhiên Chiến tranh Croatia giành độc lập leo thang hơn.[20] Ngày 7 tháng 10, trước khi mãn hạn đình hoãn, Không quân Nam Tư oanh tạc Banski dvori, tòa nhà chính phủ chủ chốt tại Zagreb.[21][22] Ngày 8 tháng 10 năm 1991, thời hạn đình hoãn kết thúc, và Quốc hội Croatia đoạn tuyệt toàn bộ các quan hệ còn lại với Nam Tư. Phiên họp đặc biệt của Quốc hội được tổ chức tại tòa nhà INA trên Đại lộ Pavao Šubić tại Zagreb do quan ngại về an ninh bắt nguồn từ hành động oanh tạc gần đó của Nam Tư;[23] Cụ thể, có lo ngại rằng Không quân Nam Tư có thể tấn công tòa nhà quốc hội.[24] 8 tháng 10 hiện được kỷ niệm với vị thế ngày Độc lập của Croatia.[25]

Công nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Hội đồng Bộ trưởng của Cộng đồng Kinh tế châu Âu thiết lập Ủy ban Trọng tài Badinter vào ngày 27 tháng 8 năm 1991 để cung cấp khuyến nghị và tiêu chuẩn về pháp lý đối với công nhận ngoại giao các nước cộng hòa thuộc Nam Tư cũ.[26] Cuối năm 1991, Ủy ban tuyên bố rằng Nam Tư trong quá trình giải thể, và rằng biên giới nội bộ của các nước cộng hòa thuộc Nam Tư có thể không thay đổi được trừ khi đạt được thỏa thuận một cách tự do.[27] Các yếu tố trong duy trì biên giới tiền chiến của Croatia, được các ủy ban phân giới xác định vào năm 1947,[28] là các sửa đổi hiến pháp Nam Tư vào năm 1971 và 1974, công nhận rằng quyền chủ quyền được thực thi do các đơn vị liên bang, và rằng liên bang chỉ có quyền chuyển nhượng bằng hiến pháp.[4][29]

Robert Badinter là chủ tọa của Ủy ban Trọng tài của Hội nghị Hòa bình về Nam Tư

Đức chủ trương nhanh chóng công nhận Croatia, nhằm ngăn chặn bạo lực đang diễn ra tại các khu vực cư dân Serb. Điều này bị Pháp, Anh và Hà Lan phản đối, song các quốc gia đồng thuận theo đuổi một cách tiếp cận chung và tránh các hành động đơn phương. Ngày 10 tháng 10, hai ngày sau khi Quốc hội Croatia xác nhận tuyên bố độc lập, Cộng đồng Kinh tế châu Âu quyết định hoãn bất kỳ quyết định nào công nhận Croatia trong hai tháng. Khi thời hạn kết thúc, Đức biểu thị quyết định công nhận Croatia là chính sách và bổn phận của mình, quan điểm này được ÝĐan Mạch ủng hộ. Pháp và Anh nỗ lực ngăn việc công nhận bằng cách soạn thảo một nghị quyết Liên hiệp Quốc yêu cầu không có các hành động đơn phương có thể khiến tình hình xấu đi, song rút lại trong thảo luận tại Hội đồng Bảo an vào ngày 14 tháng 12, khi Đức biểu thị kiên quyết bất chấp nghị quyết Liên Hiệp Quốc. Ngày 17 tháng 12, Cộng đồng Kinh tế châu Âu chính thức đồng thuận công nhận ngoại giao Croatia vào ngày 15 tháng 1 năm 1992, dựa theo ý kiến của Ủy ban Trọng tài Badinter.[30] Ủy ban quyết định rằng không nên lập tức công nhận nền độc lập của Croatia, do hiến pháp mới của Croatia không quy định bảo vệ người thiểu số như Cộng đồng Kinh tế châu Âu yêu cầu. Tổng thống Croatia Franjo Tuđman phản ứng bằng việc viết thư đảm bảo với Robert Badinter rằng thiếu hụt này sẽ được khắc phục.[31] Cộng hòa người Serbia Krajina chính thức tuyên bố ly khai khỏi Croatia vào ngày 19 tháng 12, song tình trạng quốc gia và độc lập của họ không được quốc tế công nhận.[32] Ngày 26 tháng 12, nhà cầm quyền Nam Tư tuyên bố các kế hoạch về một quốc gia nhỏ hơn, có thể bao gồm các lãnh thổ chiếm được từ Croatia,[33] song kế hoạch bị Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc bác bỏ.[34]

Ngày 26 tháng 6 năm 1991, Slovenia là quốc gia đầu tiên công nhận Croatia là một quốc gia độc lập, Slovenia tuyên bố độc lập cùng ngày với Croatia.[16] Litva theo sau vào ngày 30 tháng 7, và Ukraina, Latvia, Iceland, và Đức vào tháng 12 năm 1991.[35] Cộng đồng Kinh tế châu Âu công nhận Croatia vào ngày 15 tháng 1 năm 1992, và Liên Hiệp Quốc làm điều tương tự vào tháng 5 năm 1992.[36][37]

Hậu quả[sửa | sửa mã nguồn]

Mặc dù không phải là ngày nghỉ công cộng, 15 tháng 1 được truyền thống và chính giới Croatia đánh dấu là ngày quốc gia giành được công nhận quốc tế.[38] Nhân dịp kỷ niệm 10 năm sự kiện vào năm 2002, Ngân hàng Quốc gia Croatia cho đúc tiền đồng kỷ niệm 25 kuna.[39] Trong thời kỳ sau tuyên bố độc lập, chiến tranh leo thang, với các cuộc bao vây tại Vukovar[40]Dubrovnik,[41] và giao chiến tại các nơi khác, kéo dài cho đến khi ngừng bắn vào ngày 3 tháng 1 năm 1992 dẫn đến ổn định và giảm đáng kể bạo lực.[42] Chiến tranh kết thúc trên thực tế vào tháng 8 năm 1995 với một thắng lợi quyết định cho Croatia do kết quả từ Chiến dịch Bão táp.[43] Biên giới hiện này của Croatia được xác định khi các khu vực do người Serb chiếm cứ tại Đông Slavonia được trả lại cho Croatia theo Hiệp định Erdut vào tháng 11 năm 1995, quá trình kết thúc vào tháng 1 năm 1998.[44]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă “Izviješće o provedenom referendumu” [Report on performed referendum] (PDF) (bằng tiếng Croatia). State Election Committee. Ngày 22 tháng 5 năm 1991. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2011. 
  2. ^ Šute, Ivica (ngày 1 tháng 4 năm 1999). “Deklaracija o nazivu i položaju hrvatskog književnog jezika – Građa za povijest Deklaracije, Zagreb, 1997, str. 225” [Declaration on the Status and Name of the Croatian Standard Language – Declaration History Articles, Zagreb, 1997, p. 225] (PDF). Radovi Zavoda za hrvatsku povijest (bằng tiếng Croatia) 31 (1): 317–318. ISSN 0353-295X. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2011. 
  3. ^ Vlado Vurušić (ngày 6 tháng 8 năm 2009). “Heroina Hrvatskog proljeća” [Heroine of the Croatian Spring]. Jutarnji list (bằng tiếng Croatia). Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2011. 
  4. ^ a ă Rich, Roland (1993). “Recognition of States: The Collapse of Yugoslavia and the Soviet Union”. European Journal of International Law 4 (1): 36–65. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2011.  Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “Rich” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác
  5. ^ Frucht 2005, tr. 433.
  6. ^ “Leaders of a Republic In Yugoslavia Resign”. The New York Times. Reuters. Ngày 12 tháng 1 năm 1989. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2010. 
  7. ^ Davor Pauković (ngày 1 tháng 6 năm 2008). “Posljednji kongres Saveza komunista Jugoslavije: uzroci, tijek i posljedice raspada” [Last Congress of the League of Communists of Yugoslavia: Causes, Consequences and Course of Dissolution] (PDF). Časopis za suvremenu povijest (bằng tiếng Croatia) (Centar za politološka istraživanja) 1 (1): 21–33. ISSN 1847-2397. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2010. 
  8. ^ Branka Magas (ngày 13 tháng 12 năm 1999). “Obituary: Franjo Tudjman”. The Independent. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2011. 
  9. ^ “Armed Serbs Guard Highways in Croatia During Referendum”. The New York Times. Ngày 20 tháng 8 năm 1990. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2010. 
  10. ^ Nohlen, Dieter; Stöver, Philip (2010). Elections in Europe: A Data Handbook. Nomos Verlagsgesellschaft. tr. 401. ISBN 978-3-8329-5609-7. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2011. 
  11. ^ Chuck Sudetic (ngày 2 tháng 10 năm 1990). “Croatia's Serbs Declare Their Autonomy”. The New York Times. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2010. 
  12. ^ Eastern Europe and the Commonwealth of Independent States. Routledge. 1998. tr. 272–278. ISBN 978-1-85743-058-5. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2010. 
  13. ^ a ă “Odluka o raspisu referenduma” [Decision to hold a referendum]. Narodne Novine (bằng tiếng Croatia). Ngày 2 tháng 5 năm 1991. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2011. 
  14. ^ “Croatia Calls for EC-Style Yugoslavia”. Los Angeles Times. Ngày 16 tháng 7 năm 1991. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2010. 
  15. ^ Sudetic, Chuck (ngày 20 tháng 5 năm 1991). “Croatia Votes for Sovereignty and Confederation”. The New York Times. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2010. 
  16. ^ a ă Chuck Sudetic (ngày 26 tháng 6 năm 1991). “2 Yugoslav States Vote Independence To Press Demands”. The New York Times. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2010. 
  17. ^ “Deklaracija o proglašenju suverene i samostalne Republike Hrvatske” [Declaration on proclamation of sovereign and independent Republic of Croatia]. Narodne Novine (bằng tiếng Croatia). Ngày 25 tháng 6 năm 1991. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2010. 
  18. ^ Riding, Alan (ngày 26 tháng 6 năm 1991). “Europeans Warn on Yugoslav Split”. The New York Times. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2010. 
  19. ^ Sudetic, Chuck (ngày 29 tháng 6 năm 1991). “Conflict in Yugoslavia; 2 Yugoslav States Agree to Suspend Secession Process”. The New York Times. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2010. 
  20. ^ Sudetic, Chuck (ngày 6 tháng 10 năm 1991). “Shells Still Fall on Croatian Towns Despite Truce”. The New York Times. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2010. 
  21. ^ “Yugoslav Planes Attack Croatian Presidential Palace”. The New York Times. Ngày 8 tháng 10 năm 1991. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2010. 
  22. ^ Williams, Carol J. (ngày 8 tháng 10 năm 1991). “Croatia Leader's Palace Attacked”. Los Angeles Times. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2011. 
  23. ^ “Govor predsjednika Hrvatskog sabora Luke Bebića povodom Dana neovisnosti” [Speech of Luka Bebić, Speaker of the Croatian Parliament on occasion of the Independence day] (bằng tiếng Croatia). Sabor. Ngày 7 tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2011. 
  24. ^ Dražen Boroš (ngày 8 tháng 10 năm 2011). “Dvadeset godina slobodne Hrvatske” [Twenty years of free Croatia] (bằng tiếng Croatia). Glas Slavonije. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2011. 
  25. ^ “Ceremonial session of the Croatian Parliament on the occasion of the Day of Independence of the Republic of Croatia”. Official web site of the Croatian Parliament. Sabor. Ngày 7 tháng 10 năm 2004. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2012. 
  26. ^ Sandro Knezović (tháng 2 năm 2007). “Europska politika u vrijeme disolucije jugoslavenske federacije” [European Politics at the Time of the Dissolution of the Yugoslav Federation] (PDF). Politička Misao (bằng tiếng Croatia) (University of Zagreb, Faculty of Political Sciences) 43 (3): 109–131. ISSN 0032-3241. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2012. 
  27. ^ Pellet, Allain (1992). “The Opinions of the Badinter Arbitration Committee: A Second Breath for the Self-Determination of Peoples” (PDF). European Journal of International Law 3 (1): 178–185. 
  28. ^ Kraljević, Egon (tháng 11 năm 2007). “Prilog za povijest uprave: Komisija za razgraničenje pri Predsjedništvu Vlade Narodne Republike Hrvatske 1945.-1946” [Contribution to the history of public administration: commission for the boundary demarcation at the government's presidency of the People's Republic of Croatia, 1945–1946] (PDF). Arhivski vjesnik (bằng tiếng Croatia) (Croatian State Archives) 50 (50): 121–130. ISSN 0570-9008. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2012. 
  29. ^ Čobanov, Saša; Rudolf, Davorin (2009). “Jugoslavija: unitarna država ili federacija povijesne težnje srpskoga i hrvatskog naroda – jedan od uzroka raspada Jugoslavije” [Yugoslavia: a unitary state or federation of historic efforts of Serbian and Croatian nations—one of the causes of breakup of Yugoslavia]. Zbornik radova Pravnog fakulteta u Splitu (bằng tiếng Croatia) (University of Split Faculty of Law) 46 (2). ISSN 1847-0459. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2010. 
  30. ^ Lucarelli, Sonia (2000). Europe and the breakup of Yugoslavia: a political failure in search of a scholarly explanation. Martinus Nijhoff Publishers. tr. 125–129. ISBN 978-90-411-1439-6. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2011. 
  31. ^ Roland Rich (1993). “Recognition of States: The Collapse of Yugoslavia and the Soviet Union” (PDF). European Journal of International Law 4 (1): 48–49. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2011. 
  32. ^ Statehood and the law of self-determination. Martinus Nijhoff Publishers. 2002. tr. 79–81. ISBN 978-90-411-1890-5. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2011. 
  33. ^ “Serb-Led Presidency Drafts Plan For New and Smaller Yugoslavia”. The New York Times. Ngày 27 tháng 12 năm 1991. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2011. 
  34. ^ “A/RES/49/43 The situation in the occupied territories of Croatia” (PDF). United Nations. Ngày 9 tháng 2 năm 1995. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2011. 
  35. ^ “Date of Recognition and Establishment of Diplomatic Relation”. Ministry of Foreign Affairs and European Integration (Croatia). Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2011. 
  36. ^ Stephen Kinzer (ngày 24 tháng 12 năm 1991). “Slovenia and Croatia Get Bonn's Nod”. The New York Times. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2012. 
  37. ^ Paul L. Montgomery (ngày 23 tháng 5 năm 1992). “3 Ex-Yugoslav Republics Are Accepted Into U.N.”. The New York Times. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2012. 
  38. ^ “Obilježena obljetnica priznanja” [Recognition Anniversary Marked] (bằng tiếng Croatia). Croatian Radiotelevision. Ngày 15 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2011. 
  39. ^ “Commemorative 25 Kuna Coins in Circulation”. Croatian National Bank. Ngày 19 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2011. 
  40. ^ Sudetic, Chuck (ngày 18 tháng 11 năm 1991). “Croats Concede Danube Town's Loss”. The New York Times. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2010. 
  41. ^ Binder, David (ngày 9 tháng 11 năm 1991). “Old City Totters in Yugoslav Siege”. The New York Times. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2010. 
  42. ^ Sudetic, Chuck (ngày 3 tháng 1 năm 1992). “Yugoslav Factions Agree to U.N. Plan to Halt Civil War”. The New York Times. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2010. 
  43. ^ Dean E. Murphy (ngày 8 tháng 8 năm 1995). “Croats Declare Victory, End Blitz”. Los Angeles Times. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2010. 
  44. ^ Chris Hedges (ngày 16 tháng 1 năm 1998). “An Ethnic Morass Is Returned to Croatia”. The New York Times. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2010. 

Nguồn[sửa | sửa mã nguồn]

  • Frucht, Richard C. (2005). Eastern Europe: An Introduction to the People, Lands, and Culture 1. ABC-CLIO. ISBN 1-57607-800-0.