Truân Triết

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Truân Triết
肫哲
Công chúa nhà Thanh
Thông tin chung
Phối ngẫuÁo Ba
Ba Đạt Lễ
Tên đầy đủ
Ái Tân Giác La Truân Triết (愛新覺羅 肫哲)
Tước vịHòa Thạc Công chúa
Hoàng tộcÁi Tân Giác La
Thân phụĐồ Luân
Thân mẫuĐích phu nhân Vương Giai thị
Sinh1612
Mất1648

Truân Triết (chữ Hán: 肫哲; 1612 - 1648), Ái Tân Giác La, là một Công chúa nhà Thanh trong lịch sử Trung Quốc.

Cuộc đời[sửa | sửa mã nguồn]

Truân Triết sinh vào giờ Ngọ, ngày 16 tháng 7 (âm lịch), năm Minh Vạn Lịch thứ 40 (1612), trong gia tộc Ái Tân Giác La. Bà là con gái thứ hai của Bối lặc Đồ Luân, mẹ là Đích Phu nhân Vương Giai thị. Bà là cháu nội của Thư Nhĩ Cáp Tề và là chất tôn nữ của Nỗ Nhĩ Cáp Xích. Từ nhỏ, bà đã được Nỗ Nhĩ Cáp Xích nuôi dưỡng trong cung cùng người cô là Tôn Đại Cách cách, vì vậy thường xưng "Truân Triết Cách cách".[1]

Năm Thiên Mệnh thứ 11 (1626), tháng 10, bà kết hôn với Thai cát Áo Ba (奥巴), thuộc Bác Nhĩ Tế Cát Đặc thị của Khoa Nhĩ Thấm. Không lâu sau, Áo Ba trở thành Thổ Tạ Đồ hãn.

Năm Thiên Thông thứ 6 (1632), tháng 9, Ngạch phò Áo Ba qua đời, bà tái giá với con chồng là Ba Đạt Lễ (巴达礼).

Năm thứ 7 (1627), tháng 12, Ba Đạt Lễ trở thành "Thổ Tạ Đồ Tể Nông", tức Phó hãn.

Năm thứ 10 (1636), 1 tháng trước lễ lên ngôi của Hoàng Thái Cực, bà cùng Ba Đạt Lễ đến triều bái, Hoàng Thái Cực ra ngoài 10 dặm nghênh đón, tại Bồ Hà Sơn thiết lập [Hoàng ác ngự tọa - 黄幄御座][2], Truân Triết Cách Cách từ xa lễ bái một lần. Bà dâng lên yên ngựa chạm trỗ hoa văn, lạc đà, lông cừu, lông chồn các loại. Sau, Hoàng Thái Cực triệu Thổ Tạ Đồ Tể Nông cùng Cách Cách vào cung, thiết đại yến chiêu đãi [3].

Năm Sùng Đức nguyên niên (1636), sau đại điển lên ngôi, Ba Đạt Lễ được phong làm Thổ Tạ Đồ Thân vương, cho phép thế tập võng thế, thụ Trát Tát Khắc, là Trát Tát Khắc Thổ Tạ Đồ Thân vương đời thứ nhất của Triết Lý Mộc minh Khoa Nhĩ Thấm tả dực trung kỳ.

Năm thứ 2 (1637), ngày 24 tháng 7, "Tuấn Trát Công chúa" được phong làm "Quốc triều Trát Tát Khắc Công chúa" (tức Hòa Thạc Công chúa).

Năm Thuận Trị thứ 5 (1648), bà qua đời năm 37 tuổi. Bà có một người chị gái gả cho con trai của Mục Khố Thập, cả hai vì bị A Tế Cách liên lụy mà bị xử tử vào tháng 12 năm Thuận Trị thứ 7 (1650).

Ngạch phò Ba Đạt Lễ có một người con trai là Ba Nhã Tư Hô Lãng, tập tước Thổ Tạ Đồ Thân vương, sau trở thành Ngạch phò của Cố Luân Đoan Trinh Trưởng Công chúa, không rõ có phải do bà sinh hay không.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Từ Quảng Nguyên 2005, tr. 8.
  2. ^ "Ác" ý chỉ lều bạc
  3. ^ 《太宗文皇帝实录(康熙本)》:科尔沁国土谢图济农额驸巴达礼偕格格来朝。上郊迎于十里外。蒲河山设黄幄御座,格格遥拜一次,上答礼,复近前跪以戚属礼见。土谢图济农额驸亦如格格行礼,又与诸贝勒序齿交拜,行抱见礼毕。格格、额驸具筵献上,复献雕鞍、驼马、貂裘貂皮等物,酌纳之。即于行在设大宴格格、额驸。戊申,上召土谢图济农额驸偕格格入宫,大宴之。

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Từ Quảng Nguyên (2005). 正说清朝十二后妃 [Nói về 12 Hậu phi nhà Thanh]. Trung Hoa thư cục. ISBN 9787101047745.Quản lý CS1: ref=harv (liên kết)
  • Thanh sử cảo, Quyển 166, Công chúa biểu