Vân tay

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Vân tay là do các gai da đội lớp biểu bì lên mà thành­. Đó là nơi tập kết miệng các tuyến mồ hôi, tuyến bã nhờn… Nó đã định hình khi con người còn là cái thai 4 tháng trong bụng mẹ. Khi đứa bé ra đời, lớn lên, vân tay được phóng đại nhưng vẫn giữ nguyên dạng cho đến khi về già. Nếu tay có bị bỏng, bị thương, bị bệnh thì khi lành, vân tay lại tái lập y hệt như cũ. Chỉ khi có tổn thương sâu huỷ hoại hoàn toàn, sẹo chằng chịt mới xoá mất vân tay.

Vân tay không ai giống ai, đặc sắc nhất là vân ngón cái và ngón trỏ. Nghiên cứu các vết vân tay có thể nhận ra người. Người châu Âu ngày xưa đã sớm nhận ra điều đó. Có những ông vua đã áp cả lòng bàn tay (thay cho việc đóng dấu) và ký vào các sắc dụ cơ mật, để không ai đánh tráo được. Những thợ gốm bậc thầy, những nhà nặn tượng trứ danh cũng in dấu hoa tay tài nghệ làm chứng chỉ cho tác phẩm chính hiệu của mình.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]