Văn hóa dân gian Nhật Bản

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm

Văn hoá dân gian Nhật Bản bao gồm những thứ không chính thức là truyền thống dân gian của Nhật Bảnngười Nhật Bản như thể hiện trong truyền thống truyền miệng, phong tụcvăn hóa vật chất của nó.

Trong tiếng Nhật, thuật ngữ minkan denshō ( (みん) (かん) (でん) (しょう) (Dân Gian Truyền Thừa)/ "truyền trong dân gian"?) được sử dụng để mô tả văn hóa dân gian. Nghiên cứu văn hóa dân gian (là ngành nhân chủng học dành cho nghiên cứu văn hóa dân gian) được gọi là minzokugaku ( (みん) (ぞく) (がく) (Dân Tục Học)?). Dân gian cũng sử dụng thuật ngữ là minzoku shiryō ( (みん) (ぞく) (しり) (ょう) (Dân Tục Tư Liệu)?) hoặc "tài liệu dân gian" (民俗資料?) để chỉ các đối tượng và nghệ thuật họ nghiên cứu.

Câu chuyện dân gian[sửa | sửa mã nguồn]

Một con lửng chó biến thành một cái vạc treo từ một jizai kagi móc qua một lò sưởi irori (là bếp lò truyền thống kiểu Nhật, vừa có thể nấu ăn, vừa có thể sưởi ấm.) (cảnh trong truyện Bunbuku Chagama). (khoảng những năm 1840, Trường của Hokusai)

Như ở hầu hết các quốc gia phát triển, ngày càng khó tìm được những người kể chuyện sống theo truyền thống truyền miệng. Nhưng có rất nhiều truyện dân gian được thu thập qua các thời đại. Tên mukashi-banashi (những câu chuyện về "từ lâu" hoặc từ "thời đã qua") đã được áp dụng cho truyện dân gian thông thường, vì chúng thường mở với công thức "Mukashi..."[1] (giống như "Ngày xửa ngày xưa..."). Họ cũng đóng với một số cụm từ như "dotto harai"[2] (một dạng biến thể là Dondo Hare).[3]

Những câu chuyện này đã được kể theo phương ngữ địa phương của họ, có thể khó hiểu đối với người ngoài, cả vì ngữ điệu và sự khác biệt về phát âm, cách chia động từ và từ vựng. Nhiều truyện dân gian được thu thập từ lĩnh vực này thực sự là "bản dịch" sang tiếng Nhật tiêu chuẩn (hoặc giống như chuyển thể, hợp nhất một số phiên bản thu thập).[4][5]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Bownas, Màu nâu & năm 2004, tr.50-2 xác định nhầm Namahage là một nghi lễ Kyushu. Xem các nguồn khác dưới bài viết namahage
  2. ^ Ayabe, Tsuneo; Agrhananda Bharati (ed.) (1976). Esoteric Rituals in Japanese Traditional Secret Societeis: A Study of the Death and Rebirth Motif (xem trước). Đại lý và Khán giả. Walter de Gruyter. ISBN 978-3-11-080584-0.Quản lý CS1: văn bản dư: danh sách tác giả (liên kết) Quản lý CS1: ref=harv (liên kết)
  3. ^ Plutschow 1990, tr.60 thất lạc như tỉnh Kagoshima, có lẽ nhầm lẫn với Toshidon[ja] của Biển Koshikijima được đề cập bởi Bocking 1997, tr.87 (marebito), tr.98 (namahage)
  4. ^ Bestor 2011, Routledge Hbk., tr.69, các hộ gia đình có kamidana cho thấy sự suy giảm từ 62% (1984) xuống 43,9% (2006); và chỉ 26,4% ở các khu vực đô thị
  5. ^ Ayabe, Tsuneo; Agrhananda Bharati (ed.) (1976). Các nghi thức bí truyền trong các hội bí mật truyền thống Nhật Bản: Một nghiên cứu về cái chết và sự tái sinh Motif (xem trước). Đại lý và Khán giả. Walter de Gruyter. ISBN 978-3-11-080584-0.Quản lý CS1: văn bản dư: danh sách tác giả (liên kết) Quản lý CS1: ref=harv (liên kết)

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Từ điển và bách khoa toàn thư
Chữ lồng, nghiên cứu