Vương Đài
| Vương Đài | |
|---|---|
| Thông tin cá nhân | |
| Sinh | không rõ |
| Mất | 1582 |
| Giới tính | nam |
| Gia quyến | |
Hậu duệ | Hỗ Nhĩ Can, Mạnh Cách Bố Lộc, Khang Cổ Lỗ |
| Quốc tịch | nhà Minh |
Vương Đài (tiếng Trung: 王台; bính âm: Wáng Tái, ?-1582), cũng gọi là Vạn (chữ Hán: 萬, tiếng Mãn: ᠸᠠᠨ, chuyển tả: Wan) thuộc Na Lạp thị, con trai của Triệt Triệt Mục, tức con trai trưởng của Tháp Sơn Tả vệ đô đốc Khắc Thập Nạp. Ông cũng là cháu (chất) của Cáp Đạt bối lặc Vương Trung, cũng xưng là "Vạn Hãn" (tiếng Mãn: ᠸᠠᠨᡥᠠᠨ, chuyển tả: Wanhan).
Vương Đài những năm đầu sông tại Tuy Cáp thành. Do Vương Trung bị bộ hạ biến loạn sát hại. Con trai là Bác Nhĩ Không vì nhớ thù cha, không kế vị chức bối lặc, nghênh anh họ là Vương Đài kế vị. Vương Đài lĩnh 13 trại, kế vị bối lặc, báo thù cho Vương Trung. Về sau, Vương Đài đưa ra sách lược "viễn giao cận công", bộ lạc Cáp Đạt trở nên lớn mạnh hơn, xưng bá trong các bộ Nữ Chân. Sách sử có ghi lại, đương thời Diệp Hách, Ô Lạp, Huy Phát và Hồn Hà bộ của Kiến Châu Nữ Chân đối với Cáp Đạt "tận giai phục chi". Do đó, Vương Đài coi Cáp Đạt là "nước", coi mình là Hãn. Con trai thứ ba của Thanh Hưng Tổ Phúc Mãn cũng kết thân nhân với Vương Đài.
Năm Vạn Lịch thứ 2 (1574), Vương Đài bắt được Vương Cảo, giải đến kinh thành. Triều đình nhà Minh tấn phong cho Vương Đài làm Hữu trụ quốc, Long Hổ tướng quân, phong hai con trai làm đô đốc, ban cho 20 lạng vàng.
Trong những năm cuối của Vương Đài, Cáp Đạt sinh hoạt hủ hóa, bản thân ông ta lại dâm loạn trụy lạc khiến dân chúng không chịu đựng nổi, thường có các cuộc nổi loạn, bỏ sang Diệp Hách, thế lực suy yếu. Tháng 7 năm Vạn Lịch thứ 10 (1582), Vương Đài bệnh mất.
Sau khi Vương Đài chết, con trai cả là Hỗ Nhĩ Can kế vị, riêng Khang Cổ Lỗ không phục, hai người đánh lẫn nhau, Khang Cổ Lỗ không địch nổi đào thoát đến Diệp Hách.
Gia đình
[sửa | sửa mã nguồn]Tổ tiên
[sửa | sửa mã nguồn]- Tổ phụ: Tháp Sơn Tả vệ đô đốc Khắc Tháp Nạp (徹徹穆)
- Thúc phụ: Cáp Đạt bộ trưởng Vương Trung
- Thân phụ: Triệt Triệt Mục (徹徹穆)
Thê thiếp
[sửa | sửa mã nguồn]- Nguyên phối: Cáp Đạt Na Lạp thị, sinh Hỗ Nhĩ Can.
- Kế phối: Diệp Hách Na Lạp thị, tên Ôn Giới (溫姐), em gái Bối lặc Dương Cát Nỗ và Thanh Giai Nỗ, biểu cô của Hiếu Từ Cao Hoàng hậu, sinh Mạnh Cách Bố Lộc. Vương Đài bệnh tật, bà tư thông với con thứ Khang Cổ Lỗ một thời gian dài (sau đó thì được thu kế làm trắc thất) rồi thâu tóm quyền lực nhờ hậu thuẫn nhà mẹ đẻ, đẩy Cáp Đạt vào thế suy yếu.
- Thứ thiếp không rõ họ, sinh Khang Cổ Lỗ.
Hậu duệ
[sửa | sửa mã nguồn]Con trai
[sửa | sửa mã nguồn]- Hỗ Nhĩ Can, kế thừa tước vị Cáp Đạt Bối lặc của cha.
- Nữ: A Mẫn Triết Triết (阿敏哲哲), Trắc phi của Hoàng Thái Cực
- Tử: Đại Thiện (岱善, 1560 - 1591), Cáp Đạt quốc chủ thứ tư, được nhà Minh phong làm Đô đốc Tháp Sơn Tiền vệ, bị Mạnh Cách Bố Lộc xử tử. Từng đính hôn với con gái của Bố Trại, sau này chính là Diệp Hách lão nữ.
- Tam Mã Thổ (三马秃)
- Cương Thực (纲实), mất sớm.
- Na Mộc Thai (那木台)
- Mạnh Cách Bố Lộc, đoạt ngôi Cáp Đạt Bối lặc từ cháu trai.
- Tử:
- Ngô Nhĩ Cổ Đại, Cáp Đạt Bối lặc cuối cùng. Lấy Mãng Cổ Tế, con gái của Nỗ Nhĩ Cáp Xích.
- Vương Thế Trung (王世忠), sau khi Cáp Đạt diệt vong được Minh Thần Tông nuôi dưỡng trong cung, phong làm Tả đô đốc. Về sau đầu hàng nhà Thanh, giữ chức quan cao cấp.
- Trưởng nữ, lấy con trai của Tả Lương Ngọc là Tả Mộng Canh (左夢庚).
- Mạc Lạc Hồn (莫洛浑)
- Niếp Khắc Sắc (聂克色), được Hậu Kim phong Nhất đẳng Khinh xa đô úy kiêm Vân kỵ úy.
- Nữ: Trắc Phúc tấn của Lâm Đan hãn
- Tử:
- Khang Cổ Lỗ (康古魯), cùng anh trai tranh giành ngôi vị Quốc chủ, sau khi Cáp Đạt chia ba thì vị thứ chỉ sau Mạnh Cách Bố Lộc.
- Đích thê: Diệp Hách Na Lạp thị, con gái của Thanh Giai Nỗ, tức cháu gái của Ôn Giới.
- Trắc thất: không rõ họ, tên Tôn Tỷ (孫姐), vốn là thê tử của Cương Thực.
- Tử: Cổ Mộc Đài Châu (古莫台州), bị quân Kiến Châu Nữ Chân giết.
Con gái
[sửa | sửa mã nguồn]- Trưởng nữ, gả cho Diệp Hách Bối lặc Dương Cát Nỗ.
- Nhị nữ, gả cho Tác Trường A (索長阿), cháu trai Phúc Mãn.
Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]- 赵尔巽等. "《清史稿列传十》".
| Quốc chủ Cáp Đạt |
|---|
| Nạp Tề Bố Lộc → Thượng Diên Đa Nhĩ Hòa Tề → Gia Mã Khách Thạch Châu Cổ → Tuy Đồn → Đô Lặc Hỉ → Khắc Thập Nạp → Vương Trung → Vương Đài → Hỗ Nhĩ Can → Mạnh Cách Bố Lộc → Ngô Nhĩ Cổ Đại |