Đảo Malpelo

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Khu bảo tồn động thực vật hoang dã Đảo Malpelo
Welterbe.svg Di sản thế giới UNESCO
Malpelo Island.jpg
Quốc gia  Colombia
Tọa độ 3°59′B 81°36′T / 3,983°B 81,6°T / 3.983; -81.600
Kiểu Thiên nhiên
Hạng mục vii, ix
Tham khảo 1216
Vùng UNESCO Châu Mỹ
Lịch sử công nhận
Công nhận 2006 (kì thứ 30th)

Malpelo là một hòn đảo nhỏ ở phía Đông Thái Bình Dương, cách Colombia đại lục khoảng 500 km (310 dặm) về phía Tây. Ngoại trừ một đồn quân sự nhỏ được điều khiển bởi các lực lượng vũ trang Colombia, còn lại hòn đảo là vùng đất không có người ở. Nó bao gồm một khối đá cằn cỗi với ba đỉnh núi cao, cao nhất là Cerro de la Mona với chiều cao 300 mét (980 ft). Hòn đảo có chiều dài từ đông bắc đến tây nam là khoảng một dặm, và rộng khoảng 700 m.

Hòn đảo nhô lên trên bề mặt từ Malpelo Ridge, là một dãy núi lửa tàu ngầm đơn độc kéo dài theo hướng đông bắc-tây nam với chiều dài 300 km (190 dặm) và có chiều rộng 100 km (62 dặm). Hòn đảo này được bao quanh bởi một số đảo đá nhỏ ngoài khơi. Ra khỏi góc phía đông bắc của hòn đảo là Tres Mosqueteros. Góc phía tây nam là các đảo đá Salomon, Saul, La Gringa và Escuba. Hầu hết các mặt của đảo chính là rất dốc, còn vùng biển xung quanh là những khu vực nước sâu, dòng chảy siết. Như một hòn đảo đơn độc giữa đại dương, nó không bao giờ được kết nối với bất kỳ hòn đảo nào khác hay đất liền.[1][2]

Đảo Malpelo bao gồm dung nham gối Miocen, trầm tích núi lửa breccias, và con đê đá bazan 16-17.000.000 tuổi. Hòn đảo này hình thành trong thế Miocen bởi một sự tương tác rất phức tạp giữa các mảng Cocos - Nazcađiểm nóng Galápagos.[1][2][3]

Động thực vật[sửa | sửa mã nguồn]

Thoạt nhìn, hòn đảo này có vẻ là một khối đá cằn cỗi, không có bất kỳ thảm thực vật nào. Nhưng phân chim đã giúp cho các loài tảo, địa y, rêu, một số cây bụi và dương xỉ phát triển, tất cả nguồn dinh dưỡng cần thiết đều từ phân chim. Hòn đảo chính là một khu bảo tồn hoang dã, bảo vệ các loài thực vật và động vật một cách tuyệt đối, trong một khu vực vòng tròn bán kính 9.656 km (6,000 dặm). Ngày 12 tháng 7 năm 2006, Malpelo được tuyên bố bởi UNESCO như là một Di sản thế giới. Một tổ chức bảo vệ của Colombia [4] đang cố gắng để bảo tồn tính đa dạng sinh học của hòn đảo.

Mapelo là nhà của khoảng 500 con cá mập đầu búa và hàng trăm con Carcharhinus falciformis khiến nó trở thành một địa điểm lặn quan sát cá mập phổ biến. Một số loài quý hiếm khác gồm có Cá nhám hổ cát răng nhỏ, Acanthemblemaria stephensi hay loài chim điên Nazca.

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Anonymous (2010) Pacific Coast: Malpelo Island, Coasts of Colombia. Coastal and Marine Geology Program, United States Geological Survey, Santa Cruz, California.
  2. ^ a ă Marcaillou, B. P. Charvis, and J.-Y. Collot (2006) Structure of the Malpelo Ridge (Colombia) from seismic and gravity modeling. Marine Geophysical Research. 27:289–300.
  3. ^ Hoernle K., P. Bogaard, R. Werner, F. Hauff, B. Lissinna, G.E. Alvarado and D. Garbe-Schnberg (2002) Missing history (16–71 Ma) of the Galapagos hotspot: implications for the tectonic and biological evolution of the Americas. Geology. 30(9):795–798.
  4. ^ Fundación Malpelo y Otros Ecosistemas Marinos

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Verga, Giovanni (1936). Malpelo (bằng Tây Ban Nha). México: Departamento de Biblioteca de la Secretaría de Educación Pública. 
  • Prahl, Henry von (1990). Malpelo la roca viviente (bằng Tây Ban Nha) (ấn bản 1.). Bogotá, Colombia: Fondo para la Protección del Medio Ambiente,. 
  • Parques Nacionales Naturales de Colombia. Fundación Malpelo y Otros Ecosistemas Marinos. Plan de Manejo del Santuario de Flora y Fauna de Malpelo (bằng Tây Ban Nha). Bogotá, Colombia: Fondo para la Protección del Medio Ambiente. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2014. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]