Bộ Cà

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Bộ Cà
Solanum melongena ja02.jpg
Cà dái dê (Solanum melongena)
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Plantae
(không phân hạng) Angiospermae
(không phân hạng) Eudicots
(không phân hạng) Asterids
Bộ (ordo) Solanales
Juss. ex Bercht. & J.Presl, 1820
Các họ

Ít nhất bao gồm các họ:

và các họ khác, phụ thuộc vào hệ thống phân loại; cụ thể xem trong bài.

Bộ Cà (danh pháp khoa học: Solanales) là một bộ thực vật có hoa, được bao gồm trong nhóm Cúc (asterid) của thực vật hai lá mầm. Một số văn bản cũ còn dùng tên gọi Polemoniales cho bộ này.

Phân loại[sửa | sửa mã nguồn]

Các họ dưới đây được tính là thuộc bộ Cà trong hệ thống phân loại mới của Angiosperm Phylogeny Group (APG):

Hệ thống APG IIhệ thống APG III coi bộ Cà là một phần của nhóm Cúc thực thụ I (Euasterids I).

Các loài được biết đến nhiều nhất trong bộ Cà là các loài cà (độc dược, cà pháo, cà bát, cà tím v.v), khoai tây, khoai lang, cà chua, thuốc ládã yên thảo (thuốc lá cảnh).

Trong hệ thống Cronquist, ba họ sau cùng trong phân loại của APG trên đây được đặt ở các bộ khác, còn bộ này thì lại có thêm các họ sau:

Phát sinh chủng loài[sửa | sửa mã nguồn]

Biểu đồ chỉ ra mối quan hệ phát sinh chủng loài của bộ Cà với các bộ khác trong nhánh Cúc như sau:

Asterids

Cornales




Ericales


Gentianidae 
Lamiidae 

Oncothecaceae



Metteniusaceae



Icacinaceae



Garryales




Boraginaceae



Vahliaceae



Gentianales




Solanales



Lamiales





Campanulidae 

Aquifoliales




Asterales



Escalloniales




Bruniales




Apiales




Paracryphiales



Dipsacales










Cây phát sinh chủng loài trong phạm vi bộ Cà dưới đây lấy theo Bremer B. và ctv (2002)[1].

Solanales 


Montiniaceae




Sphenocleaceae



Hydroleaceae






Convolvulaceae



Solanaceae




Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Bremer B., Bremer K., Heidari N., Erixon P., Olmstead R. G., Anderberg A. A., Källersjö M., Barkhordarian E., 2002. Phylogenetics of asterids based on 3 coding and 3 non-coding chloroplast DNA markers and the utility of non-coding DNA at higher taxonomic levels. Mol. Phyl. Evol. 24: 274-301