Họ Bìm bìm

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Họ Bìm bìm
Starr 040711-0402 Ipomoea imperati.jpg
Ipomoea imperati
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Plantae
(không phân hạng) Angiospermae
(không phân hạng) Eudicots
(không phân hạng) Asterids
Bộ (ordo) Solanales
Họ (familia) Convolvulaceae
Juss., 1789
Chi điển hình
Convolvulus
L., 1753
Các chi
Xem văn bản

Họ Bìm bìm hay họ Khoai lang hoặc họ Rau muống (danh pháp khoa học: Convolvulaceae), là một nhóm của 55-60 chi và khoảng 1.625-1.650 loài, chủ yếu là cây thân thảo dạng dây leo, nhưng cũng có một số loài ở dạng cây gỗ hay cây bụi, phân bố rộng khắp thế giới. Đa phần có các tuyến nhựa mủ. Các chi đa dạng nhất về loài là Ipomoea (khoảng 500 loài, cận ngành), Cuscuta (khoảng 145 loài), Convolvulus (khoảng 100 loài), Argyreia (khoảng 90 loài), Jacquemontia (khoảng 90 loài), Erycibe (khoảng 75 loài), Merremia (khoảng 70 loài).

Miêu tả[sửa | sửa mã nguồn]

Các loài trong họ này có thể dễ dàng nhận biết nhờ tràng hoa đối xứng xuyên tâm hình phễu; công thức hoa cho họ này là 5 lá đài, 5 cánh hoa hợp, 5 nhị hoa trên tràng (các nhị hợp với các cánh hoa), bầu nhụy thượng, dạng quả tụ. Hoa lưỡng tính hay đơn tính khác gốc. Thân của chúng thường quấn lại, vì thế mà có tên Latinh (convolvere = quấn/cuốn lại). Các lá đơn mọc so le, không có lá kèm. Quả là dạng quả nang, quả mọng hay quả kiên, tất cả chỉ chứa 2 hạt trên mỗi ngăn (một noãn/bầu).

Các lá và rễ củ nhiều tinh bột của một số loài được sử dụng như là một dạng lương thực hay rau (chẳng hạn khoai langrau muống), hạt của chúng được khai thác để dùng làm thuốc nhuận tràng trong y học. Một vài loài, chẳng hạn như ololiuhqui (Rivea corymbosa), chứa các ancaloit ergolin, chất có lẽ chịu trách nhiệm cho việc sử dụng các loài cây này như là một thành phần trong các loại ma túy gây ảo giác phiêu diêu. Sự hiện diện của các ergolin trong họ này dường như là do bị nhiễm nấm có liên quan tới nấm cựa thuộc chi Claviceps. Nghiên cứu gần đây về loài bìm bìm Ipomoea asarifolia và các dạng nấm gắn liền với nó chỉ ra sự hiện diện của nấm, được nhận dạng bằng lấy trình tự DNA 18s và ITS ADN ribosomphân tích phát sinh loài, có quan hệ họ hàng gần gũi với nấm trong họ Clavicipitaceae; luôn luôn gắn liền với sự hiện diện của các ancaloit ergolin trong các loài thực vật này. Loài nấm đã được nhận dạng này dường như là ký sinh bắt buộc chuyển tải hạt, phát triển biểu sinh trên cây chủ[1]. Phát hiện này gợi ý mạnh mẽ rằng sự hiện diện duy nhất của các ancaloit ergolin ở một vài loài trong họ Convolvulaceae là do quan hệ cộng sinh với nấm họ Clavicipitaceae.

Phần lớn các loài trong họ này có hoa sặc sỡ và bị coi là cỏ dại khó diệt.

Các phân họ và tông[sửa | sửa mã nguồn]

APG II[2] chia họ này thành 2 phân họ là Humbertioideae (1 loài là Humbertia madagascariensisMadagascar) và Convolvuloideae.

Theo nghiên cứu của D.F. Austin[3] thì họ Convolvulaceae có thể được phân loại thành các tông sau:

  • Ericybeae (đôi khi được phân loại thành họ riêng, gọi là Erycibaceae).
  • Cressea
  • Convolvuleae
  • Merremioids
  • Ipomoeae
  • Argyreiae
  • Poraneae (đôi khi được phân loại thành họ riêng, gọi là Poranaceae).
  • Dichondreae (đôi khi được phân loại thành họ riêng, gọi là Dichondraceae).
  • Cuscuteae (đôi khi được phân loại thành họ riêng, gọi là Cuscutaceae).

Các chi[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Steiner U. và ctv. (2006) Molecular characterization of a seed transmitted clavicipitaceous fungus occurring on dicotyledoneous plants (Convolvulaceae). Planta 224: 533-544. PMID 16525783
  2. ^ Convolvulaceae
  3. ^ Austin D. F. (1973) The American Erycibeae (Convolvulaceae): Maripa, Dicranostyles, and Lysiostyles I. Systematics. Ann. Missouri Bot. Gard. 60: 306-412.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Austin D. F. 1997. Convolvulaceae
  • Convolvulus plant
  • Convolvulaceae trong L. Watson và M.J. Dallwitz (1992 trở đi). Các họ thực vật có hoa.
  • Austin D.F. 2000. Bindweed (Convolvulus arvensis, Convolvulaceae) in North America—From medicine to menace. J. Torrey Bot. Soc. 127:172-177
  • Costea, M. 2007-onwards. Digital Atlas of Cuscuta (Convolvulaceae)
  • Lyons K.E. 2001. Element stewardship abstract for Convolvulus arvensis L. field bindweed. The Nature Conservancy.
  • Calif. Dept. of Food and Agriculture. Undated. Field bindweed (Convolvulus arvensis L.).
  • Đại học Idaho. 1999. Homewise: No matter what we do, our morning glory weeds come back every year. Any advice? Aug. 23. [1]
  • Hodges L. 2003. Bindweed identification and trol options for organic production. NebFacts. Univ. of Nebraska – Lincoln Cooperative Extension. [2]
  • Univ. of California Agriculture and Natural Resources. 2003. Field Bindweed. Pest Notes. Publ. # 7462. [3]
  • Washington State Univ. Cooperative Extension. Undated. Hortsense: Weeds: Field bindweed (Wild morningglory): Convolvulus arvensis. [4]
  • Sullivan P. 2004. Field bindweed control alternatives. ATTRA. National Sustainable Agriculture Information Service. [5]
  • Lanini W. T. Undated. Organic weed management in vineyards. University of California, Davis Cooperative Extension. [6]
  • Cox H.R. 1915. The eradication of bindweed or wild morning-glory. U.S. Dept. of Agriculture Farmers’ Bulletin 368. Washington, D.C.: Government Printing Office.
  • Littlefield J.L. 2004. Bindweeds. In Biological control of invasive plants in the United States, ed. E.M. Coombs et al. Corvallis OR: Oregon State Universityy Press. pp. 150–157.
  • New Mexico State Univ. Cooperative Extension Service. 2004. Managing Aceria malherbae gall mites for control of field bindweed. [7]
  • Cox Caroline. 2005. Coping with field bindweed without using herbicides. Journal of Pesticide Reform 25(1): 6-7

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]