Bộ Cá suốt

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Bộ Cá suốt
Red m boesemani.jpg
Cá cầu vồng Boeseman (Melanotaenia boesemani), chủng màu đỏ
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Phân giới (subregnum)

Eumetazoa

(không phân hạng) Bilateria
Liên ngành (superphylum) Deuterostomia
Ngành (phylum)

Chordata

(không phân hạng) Craniata
Phân ngành (subphylum) Vertebrata
Phân thứ ngành (infraphylum) Gnathostomata
Liên lớp (superclass) Osteichthyes
Lớp (class)

Actinopterygii

(không phân hạng) Actinopteri
Phân lớp (subclass) Neopterygii
Phân thứ lớp (infraclass)

Teleostei

(không phân hạng) Osteoglossocephalai
(không phân hạng) Clupeocephala
(không phân hạng) Euteleosteomorpha
(không phân hạng) Neoteleostei
(không phân hạng) Eurypterygia
(không phân hạng) Ctenosquamata
(không phân hạng) Acanthomorphata
(không phân hạng) Euacanthomorphacea
(không phân hạng) Percomorphaceae
(không phân hạng) Carangimorpharia
(không phân hạng) Ovalentariae
Bộ (ordo) Atheriniformes
Rosen, 1966
Các họ
6-8, xem văn bản.

Bộ Cá suốt (danh pháp khoa học: Atheriniformes), là một bộ cá vây tia bao gồm cá suốt và một vài họ ít phổ biến hơn, bao gồm cả họ Phallostethidae bất thường. Chúng phân bố rộng khắp thế giới trong các môi trường biển và nước ngọt ôn đới và nhiệt đới[1].

Miêu tả[sửa | sửa mã nguồn]

Atheriniformes là bộ cá có thân hình nói chung thuôn dài và màu trắng bạc, mặc dù có một số ngoại lệ. Chúng thường là cá nhỏ, với loài lớn nhất là jacksmelt có chiều dài đầu-thân bằng 44 cm (17 inch) và các loài nhỏ nhất, như Bangkok minnow chỉ dài 2 cm (0,79 inch) ở cá trưởng thành[1].

Các thành viên của bộ này thường có 2 vây lưng (với vây lưng thứ nhất có các gai vây mềm) và 1 vây hậu môn (với 1 gai vây ở phía trước). Đường chỉ bên thông thường yếu hoặc không có[2]. Ấu trùng của các loài trong bộ Atheriniformes chia sẻ một vài đặc trưng như ruột thường ngắn, một dãy tế bào sắc tố màu đen dọc theo lưng và các tia vây không rõ rệt trong một khoảng thời gian kể từ sau khi nở[2]. Các loài cá trong bộ này đẻ trứng nhiều nơi, với phần lớn các loài đẻ vào thân các thực vật thủy sinh[1].

Phân loại[sửa | sửa mã nguồn]

Phân loại bộ Atheriniformes vẫn chưa chắc chắn, với chứng cứ tốt nhất cho tính đơn ngành trong các đặc trưng ấu trùng được đề cập dưới đây[2]. Các họ hàng gần nhất của chúng được coi là bộ Cyprinodontiformes.[1]

Theo Nelson (2006) thì họ Melanotaeniidae bao gồm các phân họ Bedotiinae, Melanotaeniinae, Pseudomugilinae, Telmatherininae để thể hiện tính đơn ngành của chúng[2]. Tuy nhiên, trong nghiên cứu năm 2004, một biểu đồ phân loại khác đã phân loại các họ Bedotiidae, Melanotaeniidae, Pseudomugilidae (bao gồm cả các chi của phân họ Telmatherininae theo Nelson 2006) trong phân bộ Melanotaenioidei[3]. Vì thế, số lượng họ trong bộ Atheriniformes là không thống nhất giữa các tác giả.

Phân loại dưới đây lấy theo Nelson (2006)[2]:

Bộ Atheriniformes

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b Allen Gerald R. (1998). Trong Paxton J.R. & Eschmeyer W.N. Encyclopedia of Fishes. San Diego: Academic Press. tr. 153–156. ISBN 0-12-547665-5. 
  2. ^ a ă â b c Nelson, Joseph S. (2006). Fishes of the World. John Wiley & Sons Inc. ISBN 0-471-25031-7. 
  3. ^ Sparks, John S.; Smith W. Leo (2004). “Phylogeny and biogeography of the Malagasy and Australasian rainbowfishes (Teleostei: Melanotaenioidei): Gondwanan vicariance and evolution in freshwater” (PDF). Molecular Phylogenetics and Evolution 33: 719–734. doi:10.1016/j.ympev.2004.07.002. 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]