Bộ Mỏ hạc

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Bộ Mỏ hạc
Geranium robertianum01.jpg
Geranium robertianum
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Plantae
(không phân hạng) Angiospermae
(không phân hạng) Eudicots
(không phân hạng) Rosids
Bộ (ordo) Geraniales
Juss. ex Bercht. & J.Presl, 1820
Các họ
Xem văn bản.

Bộ Mỏ hạc (danh pháp khoa học: Geraniales) là một bộ nhỏ của thực vật có hoa, nằm trong phạm vi nhánh hoa Hồng (rosids) của thực vật hai lá mầm. Họ lớn nhất trong bộ này là Geraniaceae với khoảng 750- 800 loài. Ngoài ra, bộ này còn một số họ nhỏ khác, tổng cộng chưa tới 40 loài. Phần lớn các loài trong bộ Mỏ hạc là cây thân thảo, nhưng có một vài loài là cây bụi hay cây thân gỗ nhỏ.

Tầm quan trọng kinh tế của bộ Mỏ hạc là không đáng kể. Một số loài trong chi Pelargonium được trồng để lấy tinh dầu thơm sử dụng trong công nghiệp sản xuất nước hoa. Một số loài khác, chủ yếu trong họ Geraniaceae, được trồng làm cảnh hoặc làm cây thuốc trong y học.

Các mẫu hóa thạch cổ thực vật học của bộ này hiện nay vẫn không tìm thấy.

Phân loại[sửa | sửa mã nguồn]

Các họ đưa ra trong bài này là điển hình trong các phân loại mới nhất. Trong các định nghĩa đó thì họ Hypseocharitaceae được đưa vào trong họ Geraniaceae, các họ FrancoaceaeGreyiaceae được đưa vào trong họ Melianthaceae, nhưng chúng cũng có thể được coi là các họ riêng rẽ. Ngoài ra, họ Ledocarpaceae cũng có thể đưa vào trong họ Vivianiaceae.

Hệ thống APG III năm 2009 chỉ công nhận 3 họ là Geraniaceae, Melianthaceae và Vivianiaceae (tất cả đều hiểu theo nghĩa rộng).

Trong hệ thống Cronquist[sửa | sửa mã nguồn]

Trong hệ thống Cronquist cũ thì bộ Geraniales có cấu trúc khác, bao gồm các họ sau:

Các họ Vivianiaceae và Ledocarpaceae được đưa vào trong họ Geraniaceae, còn họ Hypseocharitaceae nằm trong họ Oxalidaceae, hiện nay được coi là thuộc bộ riêng của chính nó là bộ Oxalidales. Họ Melianthaceae được đặt trong bộ Sapindales, các họ Greyiaceae và Francoaceae nằm trong bộ Rosales, sau đó lại được xếp vào họ Saxifragaceae.

Phát sinh chủng loài[sửa | sửa mã nguồn]

Biểu đồ phát sinh chủng loài dưới đây lấy theo Wang và ctv. (2009),[1] với tên gọi các bộ lấy từ website của Angiosperm Phylogeny.[2]. Các nhánh với mức hỗ trợ tự khởi động thấp hơn 50% bị bỏ qua. Các nhánh khác có mức hỗ trợ 100% ngoại trừ những nơi có con số chỉ ra mức hỗ trợ cụ thể.


Vitales


eurosids 
Fabidae 

Zygophyllales



Nhánh COM 

Huaceae



Celastrales



Oxalidales



Malpighiales



Nhánh cố định nitơ 

Fabales




Rosales




Fagales



Cucurbitales







Malvidae sensu lato 
65% 

Geraniales



Myrtales





Crossosomatales




Picramniales


Malvidae sensu stricto 

Sapindales




Huerteales




Brassicales



Malvales









Phát sinh chủng loài trong nội bộ bộ Mỏ hạc như sau:

Geraniales 
Geraniaceae s.l. 

Hypseocharis



Geranioideae = Geraniaceae s.s.




Melianthaceae s.l. 

Melianthaceae s.s.



Francoaceae



Vivianiaceae s.l. 

Vivianiaceae s.s.



Ledocarpaceae





Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Hengchang Wang, Michael J. Moore, Pamela S. Soltis, Charles D. Bell, Samuel F. Brockington, Roolse Alexandre, Charles C. Davis, Maribeth Latvis, Steven R. Manchester, Douglas E. Soltis (2009). "Rosid radiation and the rapid rise of angiosperm-dominated forests". Proceedings of the National Academy of Sciences 106(10):3853-3858. 10-3-2009.
  2. ^ Peter F. Stevens (2001 trở đi). Angiosperm Phylogeny Website In: Missouri Botanical Garden.
  • Bakker, F. T. (tháng 12 năm 2002). Geraniales (bộ Mỏ hạc). Trong: Nature Encyclopedia of Life Sciences. Nature Publishing Group, London. (Có sẵn trực tuyến tại: DOI | ELS site)
  • B. C. J. du Mortier (1829). Analyse des Familles de Plantes: avec l'indication des principaux genres qui s'y rattachent, 42. Imprimerie de J. Casterman, Tournay.