Nước hoa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Nước hoa hay dầu thơmthành phần chính là tinh dầu chiết xuất từ tự nhiên(hoa,nhựa cây,gỗ..). Xuất hiện dưới dạng lỏng hoặc rắn(sáp thơm). Sử dụng với mục đích tạo ra mùi thơm cho cơ thể,cảm giác dễ chịu,sự quyến rũ giới tính hay đơn giản chỉ là che giấu một mùi khó chịu nào đó.

Khái niệm nước hoa[sửa | sửa mã nguồn]

Nước Hoa (tiếng Anh-Perfume, tiếng Pháp-Parfum), hay Dầu Thơm, theo cách gọi thông thường, được bắt nguồn từ cụm từ Latin “Per fumum” có nghĩa là “truyền tải thông qua sương/khói”. Có lịch sử phát triển hàng ngàn năm, gắn liền với lịch sử văn minh của loài người. Bắt đầu từ vùng Lưỡng Hà, trải qua Hy Lạp, La Mã, lan rộng cả ở châu Á (Ấn độ, Trung Quốc) rồi ra khắp thế giới. Là hỗn hợp các chất tạo mùi như tinh dầu, chất thơm, chất hãm hương (lưu hương), và dung môi hòa tan. Dùng để tạo ra cho cơ thể người, con vật, đồ vật hay không gian một mùi hương dễ chịu. Các thành phần của nước hoa có thể được tổng hợp nhân tạo hoặc chiết xuất từ thực vậtđộng vật. Ngành bào chế nước hoa ngày nay bắt đầu từ cuối thế kỷ XIX, với việc sản xuất đại trà (mang tính thương mại) các chất thơm như vani, coumarin.

Sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Thoạt đầu nước hoa chỉ là sản phẩm dành riêng cho phái đẹp, dành riêng cho những quý bà quyền quý bởi tự nó toát lên sự sang trọng, quyến rũ và gợi cảm. Còn ngày nay, nước hoa đã trở nên quen thuộc với mọi người, mọi lứa tuổi. Đã chấm dứt những tư tưởng nước hoa không dành cho nam giới và chỉ dành cho phái đẹp cho giới giàu sang quyền quý. Mỗi sản phẩm nước hoa có mục đích sử dụng và đối tượng khách hàng riêng biệt. Như sử dụng trong các hoạt động thể thao, trong các bữa tiệc,trong giã ngoại hay tiệc ngoài trời...Với các đối tượng được phân loại theo độ tuổi,phong cách,giới tính,nghề nghiệp. Cách sử dụng truyền thống là bôi(xức) lên một số vị trí nhất định của cơ thể,và là cách sử dụng hiệu quả nhất. Việc xức nước hoa lên quần,áo hay các đồ dùng thật sự chỉ là một sự lãng phí. Cổ tay,phía sau tai,dưới cổ là những vị trí thường được dùng,nguyên tắc là không dùng nước hoa với những vùng da mỏng(như mặt),các vùng da tiết mồ hôi nhiều(như nách),các vết thương hở,mẩn ngứa.

Phân loại. Dựa theo nồng độ tinh dầu tự nhiên (tecpen tự nhiên),chia nước hoa thành các loại chính:

  • Perfume (Extrait): với hàm lượng tinh dầu từ 20-40%,

đây là loại nước hoa đắt nhất và hiếm nhất vì nồng độ tinh dầu rất cao,đồng nghĩa với việc mùi hương rất nồng và bền.

  • Eau De Perfume (EDP): với hàm lượng tinh dầu từ 12-20%,

loại nước hoa chủ yếu dành cho phái nữ,với nồng độ tinh dầu cao,nồng nàn và bền mùi. Là dạng nước hoa phổ biến hiện nay,sử dụng hợp với những vùng khí hậu khô,hay mùa lạnh.

  • Eau De Toilette (EDT): có từ 5-12% tinh dầu

Loại nước hoa phổ biến nhất hiện nay trên thế giới,với giá cả phải chăng và chất lượng mùi hương trung bình. Đa dạng về mẫu mã,chủng loại hay nhà sản xuất. Đây là loại nước hoa với mùi nhẹ nhàng,khá bền mùi,và được dành cho cả nam và nữ.

  • Eau De Cologne (EDC) hay Eau De Fraiche: chỉ có 2-4% tinh dầu; Thương hiệu (reg. trademark): 'Original Eau de Cologne'

Ra đời lần đầu tiên ở thành phố Cologne-Đức,sau đó lan rộng ra toàn thế giới. Mùi nhẹ,khả năng giữ mùi kém,phù hợp với túi tiền "bình dân".

Thành phần. Thành phần chính là tinh dầu tự nhiên,thu được qua các quá trình chưng cất phân đoạn các loại thực vật. Kết hợp với các chất gây bay mùi mà thành phần chính là các alcohol.

các loại hoa như hoa violet, hoa hồng, hoa lài, hoa irit...có khoảng 1000-1200 loài hoa khác nhau và được cất ra tinh dầu; vỏ, rể, quả, nhựa và lá cây như táo, mơ, chanh, đào.........đều có thể làm được nước hoa nhưng phổ biến nhất là cam và chanh. Ngoài ra một số thành phần khác như Cassi, Gạo Basmati,Đàn hương, Hổ phách, Xạ hương Trưởng thành, Lá cây thường xuân, hạt hồi, violet, rễ huệ tím, cỏ thần, đậu tonka, vani, xạ hương, Hồi, Thường xuân, Nhựa thơm, Hoa cam thảo, Đậu Tonka, Xạ hương, Cánh kiến trắng, Vani...tạo cho mỗi loại nước hoa những mùi đặc trưng quyến rũ: nồng nàn, nhẹ nhàng, bí ẩn, gợi cảm, lãng mạn hay sang trọng... 

Có khoảng 2000 nhãn hiệu nước hoa nổi tiếng trên thế giới như: Chanel (đứng đầu thế giới, khoàng 6% thị phần nước hoa), Jean Paul Gauliter, Lancome, Dior, Gucci, Escada, D&G, Victoria's secret, Diesel, Calvin Klein, Tommy Hilfiger, Hugo Boss, Versace, Lacoste,Ralph Lauren...

Nốt hương[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nốt hương đầu (top notes, head notes): mùi hương bật ra ngay lập tức (vài giây sau khi xịt), tạo ấn tượng quan trọng đầu tiên cho người sử dụng. Chứa những mùi nhẹ, dễ bay hơi như mùi trái cây, mùi hoa.
  • Nốt hương giữa (middle notes, heart notes): được ví như "trái tim" của một loại nước hoa. Nốt hương này tỏa sau khoảng 15 phút (sau khi nốt hương đầu tiêu tán), tạo mùi "đặc trưng" cho nước hoa và "che đậy" mùi hương khá gắt không mấy dễ chịu của nốt hương cuối (tuy nhiên sẽ trở nên dễ chịu hơn theo thời gian), lưu mùi khá lâu. Chứa mùi hương chính của lọ nước hoa, thường là mùi cỏ, gia vị.
  • Nốt hương cuối (base note): xuất hiện hòa trộn với nốt hương cuối khi nốt này gần tiêu thất. Nốt hương cuối kết hợp với nốt hương giữa trở thành theme chính của lọ nước hoa. Nốt hương cuối đem lại cảm giác trầm lắng và đậm đặc, lưu mùi rất lâu và mạnh, thường chứa mùi của gỗ, xạ hương và nhựa thông...

Nốt hương đầu và giữa chịu ảnh hưởng của nốt hương cuối. Cũng như vậy, mùi hương của nốt cuối có thể bị bẻ cong khi kết hợp với nốt hương giữa.

Các nhà sản xuất thường ghi chú những nguyên liệu họ sử dụng trong các nốt hương cũng như thời gian lưu hương theo từng bậc (ở điều kiện chuẩn thí nghiệm của họ).

Ví dụ về nốt hương:

  • Coco Mademoiselle:
    • Nốt hương đầu: bergamot orange, mandarin (quýt), Tunisian curacao (rượu vỏ cam).
    • Nốt hương giữa: morning rose, Italian jasmine, ylang-ylang, mimosa, florentine iris.
    • Nốt hương cuối: Indonesian patchouli, Haitien vetiver, Bourbon vanilla, white musk, opoponax, tonka bean.