Ba đậu
| Ba đậu | ||||||||||||||||||||
Tranh minh họa các thành phần của cây ba đậu
|
||||||||||||||||||||
| Phân loại khoa học | ||||||||||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
|
||||||||||||||||||||
| Danh pháp hai phần | ||||||||||||||||||||
| Croton tiglium L.[1] (1753) |
Cây ba đậu còn gọi là bã đậu, mắc vát, cóng khói, cáng khỏi, giang tử, mãnh tử nhân, lão dương tử, ba nhân, mần để, hoắt, phổn, cây để, cây đết. Nó là một trong năm mươi vị thuốc cơ bản của Đông y, có xuất xứ từ Tứ Xuyên, Trung Quốc.
Ở Việt Nam, cây ba đậu mọc hoang hoặc được trồng tại nhiều tỉnh miền Bắc, nhất là các tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang, Hòa Bình, Bắc Kạn, Thái Nguyên, và các tỉnh miền Trung. Ở Trung quốc, cây này mọc nhiều tại các tỉnh Tứ Xuyên, Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam, Quí Châu, Hồ Nam, Hồ Bắc.
Tên gọi ba đậu (chữ Hán: 巴豆) vì hạt của nó giống hạt đậu và xuất xứ từ vùng Ba Thục (Tứ Xuyên, Trung Quốc)[2].
Đặc điểm [sửa]
Cao khoảng 3-6m, cành nhẵn (không có gai và lông). Lá mọc so le, hình trứng, đầu nhọn, mép lá có răng cưa nhỏ; lá dài 6-8cm, rộng 4–5 cm, cuống lá nhỏ, dài 1–2 cm. Hoa mọc thành chùm (dài 10–20 cm) ở đầu các cành, hoa đực ở đỉnh, cuống hoa nhỏ dài 1-3mm. Quả nhẵn, màu vàng nhạt, cao 2 cm, khi chín sẽ tách ra thành 3 mảnh vỏ. Hạt hình trứng dài 10mm, rộng 4-6mm, vỏ hạt cứng, mờ và có màu nâu xám.[3]
Tham khảo [sửa]
- ^ “Croton tiglium information from NPGS/GRIN”. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2008.
- ^ http://www.baophuyen.com.vn/portals/0/quangcao/TRACUUDONGDUOC/TUDIEN/THUOC/BADAU.HTM
- ^ http://www.ykhoanet.com/yhoccotruyen/baiviet/29_308.htm