Fukuzawa Yukichi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Fukuzawa Yukichi
Sinh 1835
Ōsaka, Nhật Bản
Mất 1901
Nổi tiếng vì Khai sáng nước Nhật

Fukuzawa Yukichi (tiếng Nhật: 福澤 諭吉; 1835-1901, âm Hán Việt: Phúc Trạch Dụ Cát) là một nhà tư tưởng có ảnh hưởng sâu và rộng nhất đến xã hội Nhật Bản cận đại. Những tư tưởng về chính trị, xã hội, kinh tế mà Fukuzawa truyền bá đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của Nhật Bản cận đại.

Fukuzawa Yukichi
Kanji/Hán tự: 福澤 諭吉
Kana: ふくざわ ゆきち
Hán-Việt: Phúc Trạch Dụ Cát
Rōmaji: Fukuzawa Yukichi

Vài nét về Fukuzawa Yukichi[sửa | sửa mã nguồn]

Lịch sử biết đến Fukuzawa Yukichi (Phúc-Trạch Dụ-Cát) như một nhà cải cách chính trị xã hội, nhà giáo dục tiên phong, nhà tư tưởng tiêu biểu của Nhật Bản từ cuối thời Edo, đầu thời kỳ Minh Trị, thời kỳ diễn ra những chuyển biến lớn lao trong lịch sử Nhật Bản. Tư tưởng của ông có ảnh hưởng rất lớn tới phong trào Khai sáng ở Nhật Bản vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, tạo tiền đề cho Nhật Bản trở thành một cường quốc trên thế giới. Lòng biết ơn của người Nhật đối với Fukuzawa được thể hiện qua việc hình ông được in trên tờ tiền 10.000 yen (tờ tiền có mệnh giá lớn nhất của Nhật), dù ông không phải là một đấng quân vương hay võ tướng lỗi lạc của đất nước mặt trời mọc.

Ông sinh năm 1835, mất năm 1901, thọ 66 tuổi. Một điều thú vị ngẫu nhiên là cuộc cải cách Minh Trị duy tân được bắt đầu vào năm 1868, lúc Fukuzawa 33 tuổi. Tức là nếu lấy năm Minh Trị thứ nhất làm mốc có thể chia chính xác cuộc đời 66 năm của ông thành hai nửa. Qua đó sẽ thấy được những biến cố lớn lao không chỉ đối với bản thân cuộc đời Fukuzawa mà của cả xã hội Nhật Bản.

Fukuzawa Yukichi sinh tại Ōsaka, khi cha ông đang làm cho phủ đại diện của lãnh địa Nakatsu ở đó. Cha ông vốn là một nhà Nho nhiệt tâm với kinh sử, nhưng suốt đời không thoát khỏi công việc tính toán tiền bạc và giằng co các khoản nợ cho lãnh địa. Ông luôn mang nặng mối bất bình với công việc nhuốm màu ô tục và chế độ đẳng cấp phong kiến kìm nén con người. Điều này đã có ảnh hưởng lớn đến Fukuzawa. Mặc dù cha mất sớm, nhưng như ông đã bộc bạch, từ nhỏ ông đã được hưởng một nền giáo dục Nho gia từ hình bóng của người cha nghiêm nghị. Bản thân ông từ năm 14 tuổi cũng là một học trò xuất sắc của đạo Khổng. Nhưng óc phê phán sâu sắc cùng sự nhạy cảm với những biến chuyển của thời đại đã sớm hình thành trong Fukuzawa tư tưởng nhìn nhận lại những giá trị cũ, những nếp nghĩ cổ hủ, cứng nhắc của các nhà Nho.

Năm 1836, sau khi cha mất, gia đình Fukuzawa chuyển về ở dưới lãnh địa và theo như ông kể thì họ không hòa nhập được với phong tục ở đó. Ông ví chế độ phong kiến ở lãnh địa quê ông như chiếc hộp đồ chật cứng, ngàn đời bó buộc con người. Không thể chịu đựng không khí ngột ngạt trong đó thêm ngày nào, năm 21 tuổi Fukuzawa quyết định lên đường đi Nagasaki học các môn khoa học của người châu Âu thông qua sách vở và thầy dạy người Hà Lan. Việc tiếp xúc với Hà Lan học đã làm nảy sinh trong Fukuzawa mối quan tâm và lòng cảm phục đối với nền học thuật của người phương Tây, làm tiền đề cho sự khởi xướng phong trào học tập khoa học kỹ thuật tiến bộ của người châu Âu cùng những tư tưởng mang tính cách mạng như độc lập tự tôn, nam nữ bình quyền, con người bình đẳng...

Hình Fukuzawa Yukichi trên tờ bạc mệnh giá một vạn yên của Nhật Bản

Sau đó, ông lên Osaka và tiếp tục học Hà Lan học ở trường tư thục của Ogata Kōan, đại gia Hà Lan học lúc bấy giờ. Trí thức uyên bác cùng tấm lòng nhân hậu của thầy Ogata Kōan đã tác động không nhỏ tới Fukuzawa. Đây có thể nói là thời kỳ định hình nhân cách cũng như tư tưởng của ông.

Nhưng theo lệnh của lãnh chúa, năm 25 tuổi Fukuzawa lên Edo và mở một trường tư thục nhỏ, tiền thân của trường Đại học Keiō-gijuku ngày nay.

Một năm sau đó, trong chuyến đi thăm cảng Yokohama, Fukuzawa nhận ra rằng Hà Lan học đã lỗi thời và quyết tâm chuyển sang học tiếng Anh. Trong bối cảnh việc học tập, nghiên cứu Hà Lan học vẫn còn đang ở giai đoạn thịnh hành thì phát hiện này của Fukuzawa chứng tỏ ông là người vô cùng nhạy cảm với những biến chuyển của thời đại. Vì không nhờ được thầy dạy và cũng không thuyết phục được bạn bè học cùng, ông đã nhờ những thương nhân ở cảng Yokohama mua từ điển về tự học. Khi nghe tin Mạc phủ phái đoàn sứ giả sang Hoa Kỳ vào năm 1860, không đợi lời chiêu tập, ông đã tự mình đến gặp trưởng đoàn để xin đi. Vào thời mà kỹ thuật hàng hải Nhật Bản còn thấp, ra đi là đồng nghĩa với việc chấp nhận rủi ro, có thể phải đổi cả tính mạng thì quyết định của Fukuzawa là hết sức táo bạo, vượt qua thời đại mà ông đang sống. Lần đi Mỹ này cùng chuyến đi châu Âu và chuyến đi Mỹ lần hai đã mang lại cho Fukuzawa tầm nhìn rộng lớn, quyết định đến những ảnh hưởng sau này của ông đối với Nhật Bản.

Với kinh nghiệm học được từ người phương Tây qua sách vở và những chuyến thị sát, ông đã nhiệt huyết truyền bá những tư tưởng tiến bộ bằng mọi cách có thể. Ông đã tách mình ra khỏi biến động chính trị cuối thời Mạc phủ Edo, thầm lặng dịch và viết sách. Tài năng văn chương trác việt cùng tầm nhìn sâu rộng, sự đánh giá sắc sảo thể hiện qua các trước tác của Fukuzawa đã cuốn hút mối quan tâm không chỉ của giới trí thức mà cả những người dân thường. Bản thân ông đã tiên phong nêu gương về tinh thần độc lập, đề cao thực học, thực hiện cải cách bằng việc mở trường Keiō-gijuku, trường đại học tư thục hiện đại đầu tiên và hiện nay vẫn là một trong những trường đại học tư lớn, có chất lượng giáo dục uy tín hàng đầu của Nhật Bản. Đây chính là nguồn cung cấp nhân tài về chính trị, khoa học, giáo dục với những tri thức tiên tiến khi Nhật Bản chuyển mình sang thời đại mới, thời kỳ Minh Trị.

Tài năng và nhân cách Fukuzawa Yukichi thăng hoa cùng với những năm tháng của cuộc cải cách Minh Trị duy tân. Ông đã để lại trước tác với số lượng lên tới hàng vạn trang, trong đó tiêu biểu phải kể đến là "Khuyến học" (Gakumon no susume), "Khái lược luận thuyết về văn minh" (Bunmeiron no gairyaku), "Tình hình châu Âu" (Seiyō jijō), "Phúc ông tự truyện" (Fukuō Jiden), v.v.

Tư tưởng Thoát Á của Fukuzawa Yukichi[sửa | sửa mã nguồn]

Có dịp được tiếp xúc với văn minh phương Tây qua sách vở và những chuyến viếng thăm Mỹ và châu Âu vào cuối thế kỷ 19, Fukuzawa nhận định rằng văn minh phương Tây phát triển hơn châu Á về nhiều mặt, và các nước châu Á khó lòng duy trì được nền độc lập nếu cứ đóng cửa trước văn minh phương Tây. Theo ông, giành được quyền tự trị chưa phải đã là độc lập, mà nền độc lập thật sự chỉ có thể thành hiện thực thông qua việc trở thành một quốc gia tiên tiến và văn minh. Nếu không có sự khai sáng và văn minh, nền độc lập giành được sẽ mau chóng mất đi để rồi lại lệ thuộc vào các quốc gia tiên tiến khác[cần dẫn nguồn]

Nhận thức được các nước trong khu vực châu Á mới chỉ ở mức "bán văn minh", không thể là tấm gương cho Nhật Bản học hỏi, trong bài "Thoát Á luận", Fukuzawa kêu gọi nước Nhật hãy "tách ra khỏi hàng ngũ các nước châu Á, đuổi kịp và đứng vào hàng ngũ các nước văn minh phương Tây". Ông chủ trương mở cửa giao thương với phương Tây, học hỏi kiến thức và kinh nghiệm quản lý xã hội của phương Tây để phát triển Nhật Bản. Quan điểm này của Fukuzawa đã được chứng minh bằng thực tế: Ở châu Á, chỉ có Nhật Bản và Thái Lan, hai nước chủ trương mở cửa, là tránh được sự xâm lược và thôn tính của các nước phương Tây. Chính sự du nhập của những giá trị dân chủ và nền giáo dục khoa học kiểu phương Tây đã khiến Nhật Bản không bị phương Tây xâm lược, mà ngược lại, trở thành cường quốc từ cuối thế kỷ 19[cần dẫn nguồn]

Fukuzawa tin rằng giáo dục là cách duy nhất để đạt tới văn minh, bởi bản chất của văn minh là sự phát triển kiến thức và đạo đức nội tại của dân tộc:

"Văn minh có nghĩa là đạt được cả những tiện nghi vật chất lẫn sự nâng cao tinh thần của con người. Nhưng cái tạo ra những tiện nghi vật chất và nâng cao tinh thần của con người là kiến thức và đạo đức, [do đó] bản chất của văn minh chính là quá trình phát triển kiến thức và đạo đức con người."

Fukuzawa cho rằng nền giáo dục Nho học truyền thống ở Nhật Bản chính là sự cản trở lớn nhất của nền văn minh: Nó vừa cổ hủ vừa chậm phát triển, hàng nghìn năm vẫn không thay đổi, chỉ coi trọng hình thức bên ngoài giả tạo mà coi thường chân lý và nguyên tắc. Số lượng người đi học đã ít ỏi, lại chỉ được dạy đọc/viết mà không được khuyến khích phát triển tư duy sáng tạo và độc lập. Chính vì vậy, Fukuzawa kêu gọi người dân hãy theo đuổi nền giáo dục thực học của phương Tây, dựa trên nền tảng khoa học và kỹ thuật. Mỗi người trong xã hội, từ các học giả uyên bác, những viên chức nhà nước địa vị cao đến những nông dân nghèo và những người buôn bán nhỏ đều có thể đi học để thực hiện tốt hơn chức năng riêng của mình, từ đó đóng góp sức mình vào phát triển xã hội, chứ không nhất thiết phải học để ra làm quan theo lối suy nghĩ truyền thống của Nho học[cần dẫn nguồn]. Fukuzawa phê phán lối học ấy trong xã hội Nhật đương thời:

"Trong xã hội Nhật Bản, mười người thì cả mười, trăm người thì cả trăm, tất cả đều mưu cầu việc tiến thân, thăng quan tiến chức và trở thành công chức".

Fukuzawa là người đưa ra nguyên tắc nổi tiếng: "Độc lập quốc gia thông qua độc lập cá nhân", tức là một xã hội muốn phát triển phải dựa trên những cá nhân có khả năng tư duy độc lập và sáng tạo, chứ không phải dựa vào chính phủ. Ông kêu gọi các sĩ phu Nhật Bản làm việc theo phương châm "coi trọng quốc gia và coi nhẹ chính phủ", tự tin vào sức mạnh cá nhân mà không phụ thuộc vào sức mạnh của người khác (đây chính là tư tưởng Khai Sáng của Immanuel Kant).

Để phổ biến kiến thức văn minh và tư tưởng tiến bộ phương Tây tới dân chúng, Fukuzawa đã viết trên 100 cuốn sách giải thích và cổ vũ cho thể chế chính quyền nghị viện, giáo dục phổ thông, cải cách ngôn ngữ và quyền của phụ nữ[cần dẫn nguồn]. Ông còn mở trường Đại học Keio (Trường Khánh Ứng Nghĩ Thục), nay trở thành một trong những trường đại học hàng đầu của Nhật Bản, để đào tạo những thế hệ thanh niên Nhật Bản theo phương thức mới. Cùng với một nhóm trí thức cùng tư tưởng, Fukuzawa cho ra mắt tờ báo Jiji Shimpo năm 1882, đây là một cơ quan tuyên truyền có tác động rất lớn đến công chúng Nhật Bản. Ông không coi mình là người làm chính trị, mà chỉ là "bác sĩ bắt mạch chính trị". Ông không tham gia chính quyền, dù được mời nhiều lần, nhờ đó có cơ hội phê phán chính quyền một cách mạnh mẽ và kiên quyết hơn.

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Khuyến học (1872-1876)
  • Bàn về dân quyền (1878)
  • Bàn về tiền tệ (1878)
  • Bàn về quốc quyền (1879)
  • Bàn về quốc hội (1879)
  • Bàn về kinh tế tư nhân (1880)
  • Bàn về thời sự thế giới (1882)
  • Bàn về quân sự (1882)
  • Bàn về nghĩa vụ quân sự (1884)
  • Bàn về ngoại giao (1884)
  • Bàn về phụ nữ Nhật Bản (1885)
  • Bàn về phẩm hạnh (1885)
  • Bàn về cách nhân sĩ xử thế (1886)
  • Bàn về giao tiếp (1886)
  • Bàn về nam giới Nhật Bản (1888)
  • Bàn về hoàng gia Nhật Bản (1888)
  • Bàn về thuế đất (1892)
  • Bàn về tiền đồ và trị an quốc hội (1892)
  • Bàn về thực nghiệm (1893)
  • Fukuzawa Yukichi tuyển tập (1897-1899)
  • Bàn về đại học nữ, đại học nữ mới (1899)
  • Fukuzawa Yukichi tự truyện (Phúc Ông tự truyện) (1899)

Khuyến học[sửa | sửa mã nguồn]

Phúc ông tự truyện[sửa | sửa mã nguồn]

Fukuzawa Yukichi có lẽ bắt đầu được độc giả Việt Nam biết đến với tên theo âm Hán Việt là "Phúc Trạch Dụ Cát", qua những công trình nghiên cứu về ảnh hưởng đối với tư tưởng của Phan Bội Châu, Phong trào Duy Tân và lịch sử cận đại Việt Nam cùng bản dịch cuốn Gakumon no susume (Khuyến học) của giáo sư sử học Chương Thâu. Sự thành công của cuộc Minh Trị duy tân là tấm gương sáng, là nguồn cổ vũ cho rất nhiều chí sĩ tâm huyết với sự nghiệp giải phóng dân tộc ở các nước phương Đông cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, trong đó có Phan Bội Châu và những sĩ phu của phong trào Duy Tân.

Phuc Ong tu truyen.jpg

Sau thất bại trong Thế chiến thứ hai, mặc dù giới nghiên cứu khoa học xã hội nhân văn của Nhật Bản có thể có những nhìn nhận lại về tư tưởng Fukuzawa Yukichi, nhưng cần khẳng định một điều rằng không một nhà tư tưởng nào lại có ảnh hưởng sâu và rộng đến xã hội Nhật Bản cận hiện đại hơn Fukuzawa. Có thể nói, những tư tưởng về chính trị, xã hội, kinh tế mà Fukuzawa truyền bá là một căn nguyên phát triển của Nhật Bản cận hiện đại. Vì vậy, tìm hiểu về thân thế, sự nghiệp cũng như tư tưởng Fukuzawa là điều cần thiết, không chỉ giúp người Việt nhìn nhận lại những vấp váp, sai lầm, ấu trĩ trong lịch sử cận - hiện đại Việt Nam, mà còn hữu ích cho cả sự phát triển hiện nay và sau này. Đây cũng chính là điều khiến dịch giả quan tâm đến các trước tác của Fukuzawa nói chung và cuốn "Phúc ông tự truyện" nói riêng.

Cuốn tự truyện kể về những bước thăng trầm của cuộc đời Fukuzawa Yukichi từ khi sinh ra cho đến những năm tháng tuổi già. Qua từng chi tiết nhỏ, từng vấp váp trong đời sống thường nhật hiện lên vóc dáng một con người kiên nghị, quyết đoán, luôn độc lập trong suy nghĩ, sắc sảo trong phê phán nhưng về mặt tâm tư, tình cảm lại không kém phần trầm lắng, sâu sắc.

Có thể nói, chưa đọc "Phúc ông tự truyện" thì chưa thể hiểu nhân cách cũng như tư tưởng của Fukuzawa Yukichi. Cuốn tự truyện không chỉ là lời tự thuật chân thực về những thăng trầm trong cuộc đời riêng Fukuzawa mà còn tái hiện được cả bối cảnh phức tạp của xã hội Nhật Bản trong thời kỳ chuyển biến dữ dội vào nửa cuối thể kỷ 19. Và một điều cần nói thêm rằng, tất cả những biến động lớn lao đó của lịch sử Nhật Bản được phản ánh qua những trải nghiệm thực tế, sự phân tích sắc sảo với tư cách người đương thời và bằng giọng kể chân thành, ngôn ngữ giàu nhạc điệu của Fukuzawa, nghĩa là những gì được tái hiện lại trong cuốn tự truyện khác xa với bất kỳ một sự tường thuật cứng nhắc ở cuốn sách về lịch sử nào khác.

Cuốn tự truyện có 15 chương, mỗi chương lại bao gồm những câu chuyện nhỏ khác nhau. Trong quá trình dịch cuốn Phúc ông tự truyện này, dịch giả chủ yếu dựa trên bản Fukuō Jiden do Tomita Masafumi khảo chú, được Nhà xuất bản Đại học Keiō-gijuku Daigaku ấn hành vào tháng 1 năm 2001. Tomita Masafumi là người đã dày công nghiên cứu về thân thế và sự nghiệp của Fukuzawa Yukichi.

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

  • Yukichi Fukuzawa, Phúc Ông tự truyện, Phạm Thu Giang dịch, Nxb Lý luận Chính trị và Sách Alpha, 2005

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]