Gravity Falls

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Gravity Falls
Gravity Falls logo.png
Thể loại Hài hước
Phiêu lưu
Thần thoại
Định dạng Hoạt hình nhiều tập
Sáng lập Alex Hirsch
Đạo diễn John Aoshima
Aaron Springer
Joe Pitt
Chỉ đạo nghệ thuật Michael Rianda
Lồng tiếng
Phụ hòa âm Brad Breeck
Quốc gia Mỹ
Ngôn ngữ Anh
Số mùa 2
Số tập 20 (Danh sách chi tiết)
Sản xuất
Giám đốc sản xuất Alex Hirsch
Nhà sản xuất
Thời lượng 22 phút
Công ty sản xuất Disney Television Animation
Trình chiếu
Kênh trình chiếu Disney Channel
Định dạng hình ảnh 480i (SDTV)
720p (HDTV)
Phát sóng 15 tháng sáu, 2012[1] – hiện nay
Liên kết ngoài
Trang mạng chính thức

Gravity Falls là một phim hoạt hình truyền hình dài tập Mỹ được sáng lập bởi Alex Hirsch,[2] cựu biên kịch cho The Marvelous Misadventures of FlapjackFish Hooks. Tập đầu tiên được phát sóng thử nghiệm vào ngày 15 tháng 6, 2012[1][3] và sê-ri đã chính thức xuất hiện lần đầu vào 29 tháng 6, 2012[4]. Bộ phim này được xếp loại TV-Y7.

Cốt truyện[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ phim kể về những cuộc phiêu lưu của hai anh em sinh đôi Dipper và Mabel Pines (12 tuổi), khi mà bố mẹ cho họ đến chơi với bác Stanford Pines ở một thị trấn của Gravity Falls, Oregon. "Grunkle" Stan sống và làm việc tại Lều Bí Ẩn, một cái bẫy du lịch nơi thu phí chỉ cho một cái nhìn tại bảo tàng kỳ lạ nhất thế giới này; nhưng Dipper và Mabel biết thật sự là một thứ kì lạ gì đó đang xảy ra và họ phải dựa vào nhau để sống trong thị trấn không quen thuộc ấy.[5]

Diễn viên lồng tiếng và các nhân vật[sửa | sửa mã nguồn]

Nhân vật chính[sửa | sửa mã nguồn]

  • Dipper Pines (Jason Ritter),[5] anh trai song sinh 12 tuổi của Mabel Pines. Dipper mang theo một cuốn sách số 3 mà cậu tin chắc rằng nó sẽ giúp cậu tìm ra với những bí ẩn tại thị trấn này. Là một người thích phiêu lưu, Dipper không thể ngồi yên một chỗ mà luôn luôn tìm kiếm những rắc rối tiếp theo để giải quyết. Sự chú ý đến từng chi tiết có vẻ như sẽ rất có ích khi giải những bí ẩn, nhưng những người khác lại nghi ngờ về sự tin tưởng của cậu bởi tính cách ghen tuông. Dipper được coi là thông minh hơn tuổi và không thể chờ để trưởng thành để trở thành một người đàn ông. Việc cậu từ chối ngồi yên khi có những câu đố cần phải giải sẽ khiến cậu bồn chồn trong các tình huống hằng ngày. Là một người được miêu tả như một mục tiêu có định hướng và bắt nguồn tự các chi tiết, Dipper thỉnh thoảng nghĩ về những tình huống và ám ảnh về việc lập danh sách. Nó được tiết lộ trong một tập phim mà cậu có tình cảm với Wendy; nó cũng bộc lộ trong việc cậu thích nhạc pop nữ tính. Dipper được đặt nickname theo một vết bớt trên trán có hình dạng như chòm sao Đại Hùng. Tuy vậy, cậu từ lâu lại mong ước được có tên "Tyrone".
  • Mabel Pines (Kristen Schaal),[5] em gái song sinh 12 tuổi của Dipper Pines,[6]. Mabel là một người lạc quan đến lập dị, luôn nổi trồi và tràn đầy năng lượng, là kiểu người thích thể hiện bản thân qua những chiếc áo len cực kỳ đầy màu sắc. Sự cởi mở và tính cách tò mò của cô thường giúp Dipper giải những bí ẩn, mặt dù các hành vi ngớ ngẩn của Mabel thường bị xem như một gánh nặng. Mabel thích những tiểu thuyết tuổi teen và săn tìm những chuyện tình lãng mạn (đặc biệt là ma cà rồng). Mặc dù những gì cô thấy là tối tăm ở Gravity Falls, nhưng Mabel vẫn lạc quan. Cô đã tình một lần hẹn hò với Lil' Gideon. Nó được tiết lộ trong tập "Head Hunters" (Thợ Săn Đầu) khi mà Mabel có sở thích làm nghệ thuật và mô hình, và thật sự giỏi về việc đó. Trong tập phim "Kho báu vô lý" cô ấy được phong như một nghị sĩ Hoa Kỳ chính thức bởi vị chủ tịch 8 1/2, nền tảng chính trị của Mabel là hợp thức hóa tất cả mọi thức. Mabel cũng mua một con lợn và chăm sóc như thú nuôi trong tập "The Time Traveler's Pig" (Con Lợn Của Nhà Du Hành Thời Gian) và gọi nó là Waddles.
  • Grunkle Stan (Alex Hirsch),[5] người chú của Dipper và Mabel Pines. Ông ấy sống và làm việc tại Lều Bí Ẩn, nơi được gọi là "Bảo tàng quái gở nhất thế giới". Grunkle Stan là một người bán hàng, ông đã tạo dựng thành công một cửa tiệm trong thị trấn để bán những thứ đồ lặt vặt của mình. Ông có thể kiếm tiền bằng cách bán những đồ nữ trang, trang sức rẻ tiền. Ông có nghị lực kiếm tiền, và đôi khi những đồ giả hoặc ăn trộm tiền. Và khi ông không làm ra tiền, ông lại ở nhà xem ti-vi. Stan thường đội fez (một thứ mũ của Thổ Nhĩ Kỳ) và nói về "những cậu bé từ lodge", những người mà ông tuyên bố sẽ không yêu thích hoặc tin tưởng. Ông cho cặp song sinh làm những việc chúng cho là thái quá và không thể đoán trước, nhưng nó lại được thể hiện rằng ông đang bảo vệ và yêu thương chúng vô điều kiện. Stan có một cái cầu thang ẩn dẫn đến một địa điểm không ai biết và nó được giấu sau chiếc máy bán hàng của ông.Trong tập cuối được khám phá ra ở dưới đó có một phòng thí nghiệm bí mật với các máy móc kỳ quặc và một cỗ máy khổng lồ để kham phá 3 cuốn sách ấy.Ông là một trong những người muốn lấy cuốn nhật kí.
  • Soos (Alex Hirsch),[5] một người làm việc siêng năng tại Lều Bí Ẩn và đặc biệt, anh làm miễn phí. Là một người bạn của Dipper và Mabel Pines, Soos khá mập và là một người yêu trẻ em. Anh có vẻ như có rất nhiều tài năng, đặc biệt là làm DJ. Soos khá thân với Dipper, làm "việc con trai" như làm nóng những chiếc hot dog trong một cái lò vi sóng cho tới khi chúng phát nổ. Soos hay nói "dude" sau tất cả các câu.
  • Wendy Corduroy (Linda Cardellini),[5] một cô gái 15 tuổi êm dịu, phong cách, làm nhân viên bán thời gian ở Lều Bí Ẩn. Cô cũng là người Dipper thích, biểu hiện rõ nhất là cố gây ấn tượng với Wendy trong rất nhiều tập phim. Điều đó được tiết lộ rằng Wendy đã có nhiều bạn trai trong quá khứ. Wendy có nhiều đến nỗi có một người bạn trai cũ mà cô không thể nhớ rằng đã chia tay với anh ta hay chưa. Cô là chị cả trong nhà, và bố cô ấy là Manly Dan, kẻ đốn gỗ ở Gravity Falls. Wendy khá hòa đồng, có rất nhiều bạn. Bạn trai hiện tại của Wendy là Robbie, người mà Dipper rất khinh thường. Wendy hay bênh vực Dipper trước mặt Robbie.

Nhân vật phụ[sửa | sửa mã nguồn]

  • Waddles (Dee Bradley Baker) là một con heo, được biết đến như thú cưng của Mabel. Cô ấy đã nhận được Waddles tại hội chợ và từ đó cho đến bây giờ, cả 2 không thể tách rời. Điều đó được nghiệm ra bằng việc Waddles hay dành thời gian cho Mabel và ngược lại, Mabel cũng hay dành thời gian cho chú heo ấy.
  • Ông Già McGucket (Alex Hirsch), một tên gàn dở ở Gravity Falls. Mặc dù bị mất trí và thái độ khuôn mẫu, ông là một người đạo diễn kĩ thuật tài năng. Con trai McGucket làm việc tại hồ, cả hai dường như có một mối quan hệ căng thẳng, thêm vào sự điên rồ của McGucket.Ông là người viết cuốn sách số 1 của Grunkle Stan, cuốn sách số 2 của Gideon và số 3 của Dipper. Trước đây 1 bàn tay của ông có 6 ngón. Có vẻ ông đã bị ai đó chặt đứt ngón tay này khi đang viết quyển sách số 3, bằng chứng là trang sách viết về Bill Cipher đẫm máu và bàn tay ông các tập đầu phải băng bó.
  • Robbie V. (T.J. Miller), một cậu thiếu niên theo goth, là đối thủ của Dipper trong cuộc tranh giành tình cảm với Wendy. Anh có thái độ không tốt và hay chế nhạo người khác, đặc biệt là Dipper. Robbie có kĩ năng chơi guitar, một khả năng mà Wendy thấy hấp dẫn. Mặc dù có thái độ thù địch tới hầu hết các nhân vật, nhưng anh lại chăm sóc cho Wendy rất nhiều. Robbie và Wendy đang hẹn hò, và Dipper rất ghét điều đó. Wendy đã bỏ Robbie trong tập "Boyz crazy" vì anh ta đã nói dối cô về cái đĩa nhạc mà anh tặng cô. Mọi người cho rằng anh ta chính là thây ma.
  • Lil' Gideon (Thurop Van Orman), một anh chàng trẻ tuổi sở hữu "Lều Giao Cảm", một đối thủ nặng kí với Lều Bí Ẩn. Cậu có ám ảnh với Mabel, nghĩ Dipper và Grunkle Stan là những người duy nhất khiến họ xa nhau, nhưng trong thực tế thì Mabel không quan tâm tới anh ta. Trước đây, Lil' Gideon có một tấm bùa hộ mệnh cho anh khả năng telekinesis (khả năng di chuyển vật, điều khiển mọi thứ), nhưng nó đã bị phá hủy bởi Mabel sau khi cậu cố gắng dùng nó để giết Dipper. Lil' Gideon sở hữu quyển sách số 2, tập trước của quyển sách số 3 mà Dipper nắm giữ. Nhiệm vụ mới của Gideon là nắm quyền sở hữu Lều Bí Ẩn.Cũng là người muốn lấy quyển nhật kí.
  • Cảnh Sát Trưởng Blubs (Kevin Michael Richardson)Là cảnh sát trưởng của Gravity Falls. Ông ấy hơi lười nhác, thường ngồi yên và uống cà phê thay vì xem hồ sơ. Mặc dù thiếu kỹ năng của một cảnh sát, nhưng Blubs có điểm vượt trội, và thường phá hoại khả năng giải những bí ẩn của nhứng đứa trẻ.
  • Deputy Durland (Keith Ferguson), một viên cảnh sát, cũng là một cộng sự và là cánh tay phải của cảnh sát trưởng Blubs. Ông ấy khá không thông minh và trẻ con, biểu hiện là khi Mabel nói rằng cô thậm chí không nghĩ ông có thể đọc. Cảnh sát trưởng Blubs dường như lại tìm thấy những phẩm chất quí mến, và gọi ông là "viên kim cương thô". Và thay vì "thực hiện nghĩa vụ của họ", Durland và Blubs lại thích trêu đùa (cởi áo ra và chạy vòng quanh vòi chữa cháy,...)
  • Pacifica Northwest (Jackie Buscarino), cô gái nổi tiếng nhất ở Gravity Falls. Northwest sống trong một gia đình giàu có, và là cháu gái của người sáng lập ra Gravity Falls, Nathaniel Northwest (tuy nhiên đó chỉ là giả định, người sáng lập ra thật là Quentin Trembly). Pacifica không thân thiện, hay châm biếm, hư hỏng và là đối thủ của Mabel. Cô nghĩ tính cách lập dị của Mabel là phiền nhiễu và rất con nít. Pacifica lợi dụng sự bất an của người dân để làm bất kỳ điều gì cô ấy nói và khinh thường Mabel. Tên cô ấy là sự chơi chữ của Pacific Northwest, một vùng thuộc Hoa Kỳ, gồm chủ yếu Washington, Bắc California, và Oregon, nơi thị trấn Gravity Falls tọa lạc.
  • Toby Determined (Gregg Turkington), một phóng viên cho Gravity Falls Gossiper. Ông ấy khá rập khuôn, không kiêng nể ai, nhưng lại tệ hại trong công việc. Ông đã yêu thầm một biên tập viên tin tức Shandra Jimenez đến mức Toby tấm bìa các-tông in hình cô trong tủ quần áo và tán tỉnh với nó trong tập "Head Hunters" (Thợ Săn Đầu).
  • Buddy Gleeful (Stephen Root), là người cha lịch thiệp của Lil' Gideon. Mặc dù có một người vợ tâm thần và đứa con thụ động, Nhưng Bud dường như luôn lạc quan với mọi thứ, thậm chí đến mức trở thành đồng minh với Grunkle Stan, kẻ tử thù của Gideon. Ngoài việc làm ở "Lều Giao Cảm", Bud cũng bán xe đã dùng.
  • Candy Chiu (Niki Yang) và Grenda (Carl Faruolo), 2 người bạn thân nhất của Mabel. Họ đã gặp nhau lần đầu tiên tại bữa tiệc ở Lều Bí Ẩn. Candy và Grenda đều được cho là không nổi tiếng bằng Pacifica Northwest và những đứa trẻ hòa đồng khác, nhưng họ có những khuyết điểm mà Mabel nhìn ra; Candy thì nhút nhát và khá bất an, và Grenda thì có giọng nói trầm, nam tính. Cả hai đều là fan hâm mộ của Waddles, chụp hình với nó bằng điện thoại của Candy (trong tập Summerween)

Nhân vật định kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

  • Bill Cipher (Alex Hirsch), một con quỷ trí óc mạnh mẽ có thể thâm nhập vào tâm trí của một người. Nó có một mắt, màu vàng, hình tam giác kim tự tháp với một chiếc mũ và một cái nơ. Bill lần đầu xuất hiện vật lý trong "Dreamscaperers", tuy nhiên nhiều tài liệu tham khảo cho thấy nó đã được ẩn trong các tập phim trước đó như hình ảnh hoặc câu mà nhấp nháy trên màn hình. Nó có vẻ hài hước, tuy nhiên nó mất bình tĩnh khá dễ dàng và có sức mạnh rất lớn. Nó dường như có khả năng đọc được ý nghĩ, đổi hình dạng, và bắn laser từ mắt của mình. Bill tuyên bố nó có thể sử dụng Soos, Dipper, ​​và Mabel sau này. Câu thần chú để gọi Bill là:

" Triangulum, entangulum. Veneforis dominus ventium. Veneforis venetisarium." Dịch từ tiếng Latin ra là: " Tam giác, ta gọi ngươi. Ta đã đến rào chắn bảo vệ của tâm trí. Ta sẽ thấy hàng rào đó bị phá hủy"

  • Lazy Susan (Jennifer Coolidge), người phụ nữ chậm chạp làm việc tại một quán ăn ở Gravity Falls. Bà ta thích sửa đồ vật, mặc dù không giỏi về việc đó. Bà có một con mắt lười biéng, và có ít nhất 3 chú mèo, tên là Donald, Sandy và Mr. Cat-Face. Grunkle Stan phải lòng Susan và đã lấy hết can đảm để được cô ấy thích, mặc dù Stan lại hối tiếc sau khi Susan gọi cho ông quá nhiều lần, để lại những tin nhắn thoại khác thường. Tên của Susan là sự chơi chữ với con mắt lười biếng của bà, cũng như các thiết bị trong nhà bếp.
  • Manly Dan (John DiMaggio), người đốn gỗ lực lưỡng và là bố của Wendy. Ông cũng có 3 đứa con trai. Manly Dan không ổn định và có nhiều vấn đề trầm trọng, thường đấm đá hay phá hủy những vật ngẫu nhiên khi nổi giận. Ông có vẻ như luôn bị theo dõi bởi Tay đua xe đạp dễ thương Tyler (Will Forte) nữ tính và khá tôn thờ Dan.

Các tập phim[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa Số tập Ngày phát sóng (Mỹ)
Ra mắt Kết thúc
1 20[7] 15 tháng 6, 2012 (2012-06-15) (xem trước)
29 tháng 6, 2012 (2012-06-29) (ra mắt)
2 tháng 8, 2013 (2013-08-02)

Mật mã[sửa | sửa mã nguồn]

Ở cuối mỗi tập phim có một văn bản mật mã trong một trong ba mật mã thay thế:

  • Thuật toán mã hóa Caesar được ám chỉ bởi một giọng nói trong cảnh mở đầu, mà chơi ngược nói "ba chữ ngược lại".
  • Có tập, giọng nói chơi ngược lại thành "đổi vị trí các chữ từ A đến Z" hoặc "26 chữ cái"
  • Mật mã Atbash.
  • Một mật mã thay thế trong đó mỗi chữ cái được thay thế bằng một số nguyên tương ứng với vị trí của ký tự trong bảng chữ cái 1-26, gọi là mật mã A1Z26.
  • Mật mã tổng hợp được dùng trong tập cuối phần một

Sự tiếp nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Xếp hạng[sửa | sửa mã nguồn]

Một bản thử nghiệm đặc biệt của bộ phim trong Let It Shine đã nhận được 3,4 triệu lượt xem.[8]. Bộ phim đã giành được lượng người xem khá cao trong tập thứ 5, được phát sóng vào ngày 13 tháng 6, 2012, và thu hút 3,6 triệu người xem. Vào 15 tháng ba năm 2013, tập phim "The Deep End"(Đáy hố sâu) đã được theo dõi bởi 4,5 triệu người xem sau khi ra mắt The Wizards Return: Alex vs Alex, trở thành tập phim đánh giá cao nhất cho bộ phim cho đến nay. Và tập phim 'Little Dipper' (Dipper bé nhỏ), là tập phim ít lượt xem nhất trong cả bộ, với chỉ 2,6 triệu người. Gravity Falls cũng trở thành chương trình được đánh giá cao nhất trong 'Night of Premieres' (Đêm ra mắt), với đánh giá cao hơn Jessie, A.N.T. Farm, My Babysitter's a Vampire, và Code: 9.

Sự tiếp nhận đặc biệt[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ phim nhận được khá nhiều sự ca ngợi. Nó đang hiện tại được 8.8 điểm trên TV.com,[9] và 7.7 điểm từ hơn 1,500 người dùng ở IMDb.com.[10] Từ các nhà phê bình, Gravity Falls nhận được nhiều phản hồi tích cực.[11] Brian Lowry của Variety đã nói: "Bộ phim này là một luồng gió mới với trẻ em, và cù vào những nỗi niềm hoài cổ của các bậc cha mẹ".[12] Trong khi (Los Angeles Times) Robert Lloyd gọi bộ phim là "...nhẹ nhàng xoay vòng, với những hành động đầy tính Disney và một trái tim ấm áp được đặt vào".[13] Trong phản hồi khác của David Hinckley từ New York Daily News, ông gọi Gravity Falls là "kỳ quặc và đáng yêu", và ông đưa ra lời khen ngợi cho nhân vật Mabel Pines.[14] Matt Blum, viết cho Wired, đã so sánh Gravity Falls tới bộ phim hoạt hình Regular Show của Cartoon Network và Phineas and Ferb (Disney Channel), ông cho rằng bộ phim là "khéo léo, kỳ lạ, và phần nào sâu sắc".[15]

Phát hành quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc gia / Vùng lãnh thổ Kênh Ngày ra mắt bộ phim Tựa đề
Cờ Hoa Kỳ Hoa Kỳ Disney Channel 15 tháng 6, 2012 (Xem trước)
29 tháng 6, 2012 (Ra mắt)
Gravity Falls

Disney XD

5 tháng 8, 2012 (Ra mắt)
 Canada Family 15 tháng 6, 2012 (Xem trước)
6 tháng 7, 2012 (Ra mắt)
Disney XD (Canada)
 Anh Quốc
 Ireland
Disney XD (UK & Ireland) 19 tháng 7, 2012 (Xem trước)
6 tháng 9, 2012 (Ra mắt)
Disney Channel (UK & Ireland) 20 tháng 7, 2012 (Xem trước)
7 tháng 9, 2012 (Ra mắt)[16]
CITV TBA 2013
 Úc
Bản mẫu:NZ
Disney Channel (Australia) 17 tháng 8, 2012 (Xem trước)
24 tháng 9, 2012 (Ra mắt)
 Pháp Disney Channel France 29 tháng 8, 2012 (Xem trước)
5 tháng 9, 2012 (Ra mắt)
Souvenirs de Gravity Falls (Những ký ức của Gravity Falls)
 Ba Lan Disney Channel Poland 20 tháng 9, 2012 (Xem trước)
10 tháng 11, 2012 (Ra mắt)
Wodogrzmoty Małe (Small Falls)
 Hungary Disney Channel Hungary Rejtélyek városkája (Thị trấn bí ẩn)
 Cộng hòa Séc Disney Channel Czech Republic Městečko záhad (Một thị trấn bí ẩn)
 România Disney Channel (Romania) Ciudăţeni (Thị trấn kỳ lạ)
 Bungary Disney Channel Bulgaria Тайните на Гравити Фолс (Những bí ẩn ở Gravity Falls)
 Ukraina Disney Channel Ukraine Таємниці Гравіті Фолз (Những bí ẩn ở Gravity Falls)
Flag of Brazil.svg Brasil Disney Channel Brazil 30 tháng 9, 2012 (Xem trước)
6 tháng 10, 2012 (Ra mắt)
Gravity Falls: Um Verão de Mistérios (Gravity Falls: Một mùa hè của những bí ẩn)
 Chile
 Argentina
Flag of Mexico.svg México
 Colombia
 Peru
 Ecuador
 Venezuela
Disney Channel Latin America Gravity Falls: Un Verano de Misterios (Gravity Falls: Một mùa hè của những bí ẩn)
 Nhật Bản Disney Channel Japan 26 tháng 10, 2012 Vùng kinh hãi Gravity Falls (Kaiki Zōn Gurabiti Fōruzu 怪奇ゾーン グラビティフォールズ?)
Liên đoàn Ả Rập Middle East and North Africa Disney Channel Middle East 19 tháng 10, 2012 (Xem trước)
10 tháng 11, 2012 (Ra mắt)
جرافيتي فولز
(Gravity Falls)
 Brunei
 Malaysia
Disney Channel Malaysia 27 tháng 10, 2012 Gravity Falls
 Singapore
 Philippines
 Hồng Kông
 Indonesia
 Việt Nam
 Thái Lan
Disney Channel Asia
 Tây Ban Nha Disney Channel Spain 2013 Gravity Falls
 Nga Disney Channel (Russia) January 4, 2013 (Xem trước)
March, 2013 (Ra mắt)
Гравити Фолз (Gravity Falls)
Flag of Italy.svg Ý Disney Channel (Italy) 2013 Gravity Falls
Disney XD (Italy)
Flag of Greece.svg Hy Lạp Disney Channel (Greece) 19 tháng 10, 2012 (Xem trước) Ο μυστικός κόσμος του Gravity Falls
Flag of Sweden.svg Thụy Điển
 Na Uy
 Đan Mạch
Disney Channel Scandinavia 26 tháng 10, 2012 (Xem trước)
9 tháng 11, 2012 (Ra mắt)
Gravity Falls
 Đài Loan Disney Channel Taiwan 31 tháng 10, 2012 神秘小鎮大冒險 (Một cuộc phiêu lưu lớn trong thị trấn bí ẩn)
Flag of Germany.svg Đức Disney Channel Germany 7 tháng 1, 2013 Willkommen in Gravity Falls (Chào mừng đến Gravity Falls)
 Israel Disney Channel Israel 1 tháng 11, 2013 גרוויטי פולס (Gravity Falls)

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă “Watch the Series Preview of Gravity Falls Friday, June 15”. Disney. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 5 năm 2012. 
  2. ^ BETTER GRAB SOME SUNGLASSES, THE FUTURE AROUND HERE IS BRIGHT, Disney Channel Medianet
  3. ^ Lowry, Brian (12 tháng 6 năm 2012). “TV Reviews - Gravity Falls. Variety. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 6 năm 2012. 
  4. ^ promo[[]][liên kết hỏng]
  5. ^ a ă â b c d “Gravity Falls”. Disney Channel Media Net. Tháng 5 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 5 năm 2012. 
  6. ^ “https://twitter.com/_AlexHirsch/status/227190419132387328”. 
  7. ^ Twitter / _AlexHirsch: @YazzyDream 21 full half hours
  8. ^ “Friday Cable Ratings: 'Let it Shine' Premiere, + US Open, 'WWE Friday Night Smackdown', 'Common Law', 'Fairly Legal', & More”. TV By the Numbers. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2012. 
  9. ^ Gravity Falls at TV.com
  10. ^ Gravity Falls at IMDb
  11. ^ “Gravity Falls - Season 1 Reviews, Ratings, Credits, and More”. Metacritic. 29 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2012. 
  12. ^ Lowry, Brian (12 tháng 6 năm 2012). “Gravity Falls”. Variety. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2012. 
  13. ^ Lloyd, Robert (11 tháng 6 năm 2012). “Review: Bouncy, weightless fun with 'Gravity Falls'”. Los Angeles Times. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2012. 
  14. ^ Hinckley, David (29 tháng 6 năm 2012). “New animated Disney series 'Gravity Falls' rises to an endearing level of tween cool”. New York Daily News. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2012. 
  15. ^ Blum, Matt (28 tháng 6 năm 2012). “Gravity Falls Rises to the Level of Disney Channel’s Best”. Wired Magazine. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2012. 
  16. ^ “Gravity Falls | What’s On | Disney UK”. Disney.co.uk. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2012. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Bản mẫu:Rough Draft Studios