Hò sông Mã

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Hò sông Mã là một thể loại dân ca ở vùng Thanh Hóa.

Mô tả chung[sửa | sửa mã nguồn]

Lời ca của hò sông Mã mang thể thơ lục bát.

Vắng cơm một bữa chẳng sao

Vắng em một bữa lao đao cả ngày

Vắng em chỉ một phiên đò

Trầu ǎn chẳng có chuyện đò thì không

Các làn điệu Hò sông Mã được hát theo lối xướng - xô, câu kể của một người bắt cái (thường là người cầm lái) được luân phiên với câu đồng thanh phụ họa của các trai đò.

Các điệu hò được thể hiện theo suốt chặng đường đò đi. Khi con thuyền bơi ngược dòng nước, người ta thể hiện điệu Hò đò ngược, sau mỗi câu kể của người bắt cái như hiệu lệnh để cùng thống nhất động tác lấy đà, các trai đò vừa hùa nhau hát câu xô vừa chống sào đẩy thuyền tiến về phía trước. Chưa hết, con thuyền đôi khi còn phải đối đầu với thác gềnh nữa, cả câu xướng lẫn xô trong Hò vượt thác đều ngắn gọn, chắc nịch. Khi thuyền thong dong trôi theo dòng nước êm ả, người giữ tay lái cất giọng hò các làn điệu Hò xuôi dòng, bốn trai đò chia ra hai bên mạn thuyền thong thả chèo vừa hòa giọng xô vừa nhịp nhàng giậm chân lên mặt ván.

Hò khuya[sửa | sửa mã nguồn]

Trong đêm khuya thanh vắng, tiếng hò vǎng vẳng nghe nao lòng. Khoảng nửa đêm đến sáng trong cảnh tĩnh lặng mênh mông, họ đưa khách vào giấc nồng bằng các điệu Hò ru ngủ. Trai đò còn "phục vụ" khách đò bằng Hò làn ai dựa trên các tích chuyện éo le, cảnh đời sầu bi, tình yêu dang dở. Lúc thuận buồm xuôi gió thảnh thơi ngơi chèo cũng là lúc trai đò tha hồ tâm tình ngẫu hứng. Cùng chia sẻ buồn vui với các chàng trai đò, cùng đối đáp với họ trong những khúc giao duyên tình tứ còn có các nàng khách buôn trên thuyền và đôi khi cả các cô gái ở dọc bên bờ sông nữa. Có khi chẳng biết mặt biết người trên bờ, nhưng mê tiếng hát, phục tài đối đáp đến nỗi thuyền phải cắm lại để hò với nhau vài ba câu.

Các làn điệu[sửa | sửa mã nguồn]

Rất đa dạng về mặt thang âm điệu thức. Dường như hệ thống ngũ cung lâu đời của dân tộc Việt được vận dụng cả vào đây. Có thể thấy từ thang 3 âm, 4 âm đến 5 âm, thậm chí 6 âm nhờ sự kết hợp hai thang âm khác nhau, và gặp đủ mặt 4 thang âm ngũ cung đặc trưng của Việt Nam: Bắc, Nam, Xuân và Oán.

Các làn điệu[1]:

  • Hò Rời bến
  • Hò Đò ngược hay Sắng đò ngược
  • Hò Đò xuôi:
  • Hò Nhịp đôi một
  • Hò Nhịp đôi hai
  • Hò Gióng dã
  • Hò Làn ai
  • Hò Làn văn
  • Hò Ru ngủ
  • Hò Niệm Phật
  • Hò Cầu Chúa
  • Hò lèo 2
  • Hò lèo 3
  • Hò Mắc cạn:
  • Hò Vác
  • Hò Cạn
  • Hò Cặp bến

Các bản nhạc mới dựa trên điệu hò sông Mã[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Danh mục âm nhạc cổ truyền khu vực miền trung – Tây Nguyên”. Viện Nghiên cứu Âm nhạc (Học viện Âm nhạc Huế). Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2010. 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]