HMS Courageous (50)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
HMS Courageous (50).jpg
Tàu sân bay HMS Courageous (50)
Phục vụ (Anh Quốc) Naval Ensign of the United Kingdom.svg
Đặt hàng: 14 tháng 3 năm 1915 như một tàu chiến-tuần dương
Hãng đóng tàu: Armstrong Whitworth
Đặt lườn: 18 tháng 3 năm 1915
Hạ thủy: 5 tháng 2 năm 1916
Hoạt động: 4 tháng 11 năm 1916
Xếp lớp lại: Cải biến thành tàu sân bay từ tháng 6 năm 1924 đến tháng 5 năm 1928
Số phận: Bị tàu ngầm Đức U 29 đánh chìm ngày 17 tháng 9 năm 1939
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu sân bay Glorious
Trọng tải choán nước: 22.500 tấn (tiêu chuẩn); 27.560 tấn (đầy tải)
Độ dài: 239,8 m (786 ft 7 in)
Sườn ngang: 27,6 m (90 ft 6 in)
Mớn nước: 8,5 m (28 ft)
Động cơ đẩy: 4 × turbine hơi nước Parsons
18 × nồi hơi Yarrow
4 × trục
công suất 91.195 mã lực (67 MW)
Tốc độ: 57 km/h (30,8 knot)
Tầm xa: 9.400 km ở tốc độ 30 km/h
(5.860 hải lý ở tốc độ 16 knot)
Tầm hoạt động: 3.250 tấn dầu
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
1.216 (tàu sân bay): 748 + 450 thành viên đội bay
Thủy thủ đoàn: 829 (tàu chiến-tuần dương)
Vũ trang: tàu chiến-tuần dương: 4 × pháo 380 mm (15 inch) (2×2)
18 × pháo 102 mm (4 inch) (6×3)
2 × pháo phòng không 76,2 mm (3-inch)
14 × ống phóng ngư lôi 533 mm (21 inch) (4×3 trên sàn tàu, 2 ngầm)
tàu sân bay: 16 × pháo 120 mm (4,7 inch)
24 × pháo phòng không QF 2 pounder (8×3)
Bọc giáp: tàu chiến-tuần dương: đai giáp 76 mm (3 inch)
sàn tàu 25 mm (1 inch)
tháp pháo: trước 228 mm (9 inch); trên 115 mm (4,25 inch)
tháp súng 178 mm (7 inch)
tháp chỉ huy 254 mm (10 inch)
Máy bay mang theo: 2 (tàu chiến-tuần dương)
48 (tàu sân bay)

HMS Courageous là một tàu sân bay của Hải quân Hoàng gia Anh. Nó nguyên được chế tạo tại xưởng đóng tàu Armstrong Whitworth như một "tàu tuần dương hạng nhẹ lớn"; tham gia hoạt động trong Chiến tranh Thế giới thứ nhất, rồi sau đó được cải biến thành một tàu sân bay. Nó bị trúng ngư lôi của tàu ngầm Đức và chìm ngay trong những tuần lễ mở màn của Chiến tranh Thế giới thứ hai với hơn 500 thành viên thủy thủ đoàn chìm theo nó.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

HMS Courageous không lâu sau khi hoàn tất như một tàu chiến tuần dương, năm 1916.

Những chiếc tàu chiến-tuần dương trong lớp: HMS Courageous, tàu chị em HMS Glorious và tàu nữa-chị em HMS Furious, là những đứa con tinh thần của Đô đốc Jackie Fisher, và được thiết kế như những "tàu diệt tàu tuần dương hạng nhẹ". Thoạt tiên chúng được dự định để hỗ trợ các chiến dịch tại vùng nước nông của biển Baltic, mà cuối cùng không bao giờ vượt qua. Thiết kế của nó là một kiểu tàu chiến-tuần dương hạng nhẹ; trong khi trang bị hải pháo cỡ lớn 380 mm (15 inch), nó lại được Hải quân Anh xếp vào loại tàu tuần dương hạng nhẹ do lớp vỏ giáp bảo vệ khá yếu. Courageous được chế tạo bởi hãng đóng tàu Armstrong Whitworth. Nó được đặt lườn vào ngày 28 tháng 3 năm 1915, được hạ thủy vào ngày 5 tháng 2 năm 1916, hoàn tất vào ngày 28 tháng 10 năm 1916, và được đưa ra hoạt động vào 4 tháng 11 năm 1916.

Hệ thống động lực của nó tương tự như chiếc tàu tuần dương hạng nhẹ HMS Champion được chế tạo trước đó, với hai hệ thống máy vận hành bốn trục chân vịt. Dàn pháo hạng hai của nó gồm những tháp pháo 102 mm (4 inch) ba nòng kiểu mới, được dự tính cung cấp tốc độ bắn cao chống lại các tàu phóng lôi và các chiến hạm nhỏ khác. Tuy nhiên, người ta phát hiện là việc nạp đạn cho chúng lại gây cản trở lẫn nhau, và tốc độ bắn lại chậm hơn ba khẩu pháo nòng đơn. Trong khi chạy thử máy, Courageous chịu đựng những hư hỏng về cấu trúc tại tháp chỉ huy khi đi qua vùng biển động ở tốc độ cao; các tấm thép che bên hông bị uốn cong, và có những vết rò rỉ tại các bồn dầu và bồn dự trữ nước. Việc sửa chữa nó bao gồm việc phải gia cố cấu trúc. Do cấu trúc nhẹ của nó và một số khiếm khuyết khác khiến nó mất nhiều thời gian hơn trong ụ tàu để sửa chữa, nó bị gọi tên lóng là 'Outrageous'.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Thế chiến I[sửa | sửa mã nguồn]

Khi Courageous được đưa vào hoạt động cùng Hải quân Anh, nó được phân về Hải đội Tuần dương nhẹ 3 của Hạm đội Grand. Vào mùa Xuân năm 1917, nó được trang bị như một tàu rải mìn, có khả năng mang hơn 200 quả mìn trên các đường ray trên sàn phía sau, nhưng chỉ trong một thời gian ngắn, và chưa bao giờ hoạt động như một tàu rải mìn. Vào ngày 17 tháng 11 năm 1917, cùng với GloriousRepulse, Courageous đối đầu cùng các tàu tuần dương nhẹ Đức trong Trận Heligoland Bight lần hai và bị thiệt hại nhẹ. Trong giai đoạn sau của Thế Chiến I, nó được chuyển sang Hải đội Tuần dương nhẹ 1. Vào năm 1918, các bệ phóng ngắn dành cho máy bay được trang bị trên cả hai tháp pháo 380 mm (15 inch). Vào ngày 21 tháng 11 năm 1918, Courageous có mặt khi Hạm đội Biển khơi Đức đầu hàng.

Cải biến thành tàu sân bay[sửa | sửa mã nguồn]

Khi Hiệp ước Hải quân Washington được ký kết vào năm 1922, Courageous là phần tải trọng dư ra đối với lực lượng tàu chiến chủ lực, và người ta quyết định cải biến nó thành một tàu sân bay. Sự kết hợp một thân tàu lớn và tốc độ cao, không tính đến sự không thành công của thiết kế ban đầu, khiến cho nó trở thành một ứng viên lý tưởng cho việc cải tại. Việc cải biến nó thành tàu sân bay được bắt đầu vào năm 1924 tại Căn cứ Hải quân Hoàng gia Devonport, và nó được cho tái hoạt động vào ngày tháng 5 năm 1930. Các tháp pháo 380 mm (15 inch) của nó sau khi tháo ra được trang bị như những tháp pháo X và Y trên chiếc HMS Vanguard. Phí tổn của việc cải tạo nó là 2.025.800 Bảng Anh (tương đương khoảng 82 triệu Bảng Anh vào năm 2005 [1]).

Khi tái hoạt động như một tàu sân bay, Courageous có hai sàn phóng máy bay: một sàn đáp chính, và một sàn phóng phía dưới nhỏ hơn trước mũi. Khi được tái trang bị vào những năm 19351936, sàn phóng nhỏ phía trước được cải biến thành sàn hỏa lực cho các khẩu đội súng phòng không, và sàn đáp chính được trang bị thêm hai máy phóng có khả năng phóng máy bay nặng đến 4.500 kg (10.000 lb). Nó có hai tầng hầm chứa máy bay, dài 167,6 m (550 ft) và rộng 7,3 m (24 ft). Chiếc tàu sân bay có thể mang đến 48 máy bay; vào lúc mới hoạt động, nó chở theo các kiểu máy bay Fairey Flycatcher, Blackburn Ripon và máy bay trinh sát Fairey IIIF; sau này, nó trang bị các kiểu Fairey SwordfishGloster Gladiator. Courageous có thể phân biệt với tàu sân bay chị em với nó Glorious do có phần nghiêng xuống của đầu sàn đáp về phía đuôi ngắn hơn, kiểu cột buồm khác biệt cũng như thêm một buồng hải đồ trên đảo cấu trúc thượng tầng.

Thế Chiến II[sửa | sửa mã nguồn]

HMS Courageous đang chìm sau khi trúng phải ngư lôi của tàu ngầm U-29

Courageous hoạt động cùng Hạm đội Nhà trong Lực lượng Eo biển Anh vào lúc bắt đầu Chiến tranh Thế giới thứ hai. Vào ngày 17 tháng 9 năm 1939, dưới quyền chỉ huy của Thuyền trưởng, Đại tá Hải quân W. T. Mackaig-Jones, nó đang trên đường tuần tra chống tàu ngầm ngoài khơi bờ biển Ireland. Hai trong số bốn tàu khu trục đi theo hộ tống đã được gửi đến giúp đỡ một chiếc tàu buôn đang bị tấn công. Vào lúc này, Courageous đã bị theo đuổi trong hơn hai giờ bởi tàu ngầm Đức U-29, dưới quyền chỉ huy của Trung tá Hải quân Otto Schuhart. Sau đó Courageous xoay mũi tàu ra hướng gió để phóng máy bay; sự cơ động này đưa chiếc tàu sân bay vào ngay mũi chiếc tàu ngầm, và U-29 đã phóng ra ba quả ngư lôi. Hai trong số các quả ngư lôi đã đánh trúng con tàu bên mạn trái, và Courageous bị lật úp và chìm trong vòng 15 phút với tổn thất nhân mạng 518 người trong đó có Thuyền trưởng. Nó là chiếc tàu chiến Anh Quốc đầu tiên bị đánh chìm trong chiến tranh; chiếc tàu chở hành khách dân sự Athenia bị đánh chìm chỉ hai tuần trước đó.

Một cuộc tấn công không thành trước đó do tàu ngầm U-39 nhắm vào chiếc tàu sân bay HMS Ark Royal vào ngày 14 tháng 9, và việc đánh chìm chiếc Courageous ba ngày sau, đã khiến Hải quân Hoàng gia phải rút tất cả các tàu sân bay hạm đội khỏi nhiệm vụ tuần tra chống tàu ngầm.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Phương tiện liên quan tới HMS Courageous (1916) tại Wikimedia Commons

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Inflation: The value of the pound 1750-2005” (PDF). House of Commons Library research paper. 13 tháng 2 năm 2006. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2008. 
  • Jane's Fighting Ships of World War I (Janes Publishing, London, 1919)
  • Jane's Fighting Ships of World War II (Janes Publishing, London, 1946)
  • Siegfried Breyer, Battleships and Battlecruisers 1905-1970 (Doubleday and Company; Garden City, New York, 1973) (Nguyên bản tiếng Đức: Schlachtschiffe und Schlachtkreuzer 1905-1970, J.F. Lehmanns, Verlag, Munchen, 1970). Gồm nhiều bản vẽ các con tàu khi được thiết kế và khi chế tạo.
  • John Roberts, Battlecruiser, (Chatham Publishing, London, 1997), ISBN 1-86176-006-X, ISBN 1-55750-068-1
  • Robert Gardiner, ed., Conway’s All the World’s Fighting Ships 1922 - 1946 (Conway Maritime Press, London, 1980)
  • Robert Gardiner, ed., Conway's All the World's Fighting Ships 1947 - 1982 (Conway Maritime Press, London, 1983)
  • Roger Chesneau, Aircraft Carriers of the World, 1914 to the Present; An Illustrated Encyclopedia (Naval Institute Press, Annapolis, 1984)
  • Dan Van der Vat, The Atlantic Campaign: World War II's Great Struggle at Sea (Harper and Row, New York, 1988) ISBN 0-06-015967-7
  • Correlli Barnett, Engage the Enemy More Closely (W.W. Norton & Company, New York, 1991) ISBN 0-393-02918-2
  • Peter Gibbings, Weep for me comrade (Minerva Press, London, 1997) ISBN 1-86106-437-3

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tọa độ: 50°10′B 14°45′T / 50,167°B 14,75°T / 50.167; -14.750