Lâu Chiêu Quân

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Lâu Chiêu Quân (chữ Hán: 婁昭君, 501 - 20 tháng 5 năm 562), hay Thần Vũ Minh hoàng hậu (神武明皇后), nguyên quán ở Bình Thành, Đại quận[1], là hoàng thái hậu của triều đại Bắc Tề, vợ của Cao Hoan, Thượng trụ quốc nhà Đông Ngụy, mẹ của ba vị hoàng đế nhà Bắc TềVăn Tuyên, Hiếu ChiêuVũ Thành đế[2].

Cãi lời cha mẹ, đi theo Cao Hoan[sửa | sửa mã nguồn]

Lâu Chiêu Quân chào đời năm 501 dưới thời Bắc Ngụy Tuyên Vũ Đế. Cha bà là Lâu Nội Can, từng giữ một chức quan nhỏ trong triều đình Bắc triều, vốn là người tộc Tiên Ti. Gia tộc Lâu thị di cư đến Trung Nguyên cùng với sự hưng khởi của vương triều Tiên Ti Bắc Ngụy. Sử sách không nói rõ mẹ của bà là ai.

Lâu Chiêu Quân được sử sách đánh giá là người có dung mạo đẹp đẽ, nhiều công tử quý tộc từng dâng sính lễ hỏi cưới, nhưng bà không ưng ai cả. Lúc ấy, Cao Hoan, vốn là người gốc Hán, chưa nổi danh, chỉ là một người lính giữ cổng ở Bình Thành. Khi bà gặp mặt Cao Hoan, cho rằng đây là người xứng đáng để kết hôn, bèn bí mật phái tì nữ đến kết giao với Cao Hoan, nhiều lần tặng tiền bạc cho Cao Hoan, bảo ông lấy số tiền bạc đó đem đến nhà mình làm lễ vật hỏi cưới. Mặc dù cha mẹ bà không hài lòng, nhưng sau cùng cũng phải bất đắc dĩ chấp nhận[3].

Sau đó, Cao Hoan bắt đầu gây dựng sự nghiệp, kết giao với anh hào khắp nơi. Lâu Chiêu Quân cũng nhiều lần tham dự vào. Năm 521, bà sinh hạ người con trai đầu tiên là Cao Trừng.

Được hưởng phú quý[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 525, khởi nghĩa lục trấn bùng nổ, Cao Hoan theo phò Đỗ Lạc Chu, bắt đầu con đường binh nghiệp. Đến năm 532, khi thế lực phát triển đủ mạnh, Cao Hoan tiêu diệt Nhĩ Chu thị, giết chết hai Phế Đế, tiếm vị Bột Hải vương trong triều đình, Lâu Chiêu Quân được phong làm vương phi. Sang năm 535, Bắc Ngụy phân liệt thành Đông NgụyTây Ngụy.

Văn Chiêu Quân là người dịu dàng và tiết kiệm. Thị tì của bà mỗi khi ra ngoài không bao giờ quá mười người. Tính bà lại rộng rãi nhân ái, không hề đố kị các phu nhân khác được Cao Hoan sủng ái, mà còn đối xử tốt với họ. Khi Vũ Văn Thái lập ra nước Tây Ngụy, Cao Hoan bận việc chinh chiến ở phía tây, ít khi về kinh. Năm đó Lâu Chiêu Quân đã mang thai, trong một đêm sinh đôi một nam một nữ, sau đó bà bị đau nặng. Tả hữu thấy tình hình nguy cấp, muốn báo với Cao Hoan. Bà không đồng tình nói vì cho rằng Cao Hoan còn nhiều việc bên ngoài, không thể làm phiền. Cao Hoan biết chuyện đó, tỏ ý khâm phục bà. Em trai bà là Lâu Chiêu muốn có tước vị trong triều, bà cho rằng không thể vì tình thân mà loạn phép nước, nên không chịu.

Năm 537, sau khi Đông ngụy đánh bại Tây Ngụy ở Sa Uyển, tướng Hầu Cảnh muốn thừa cơ diệt Tây Ngụy, nhưng Lâu Chiêu Quân can ngăn Cao Hoan, cuối cùng Cao Hoan bỏ lệnh này.

Năm 545, Cao Hoan do muốn phá vỡ sự liên hiệp giữa Tây Ngụy và Nhu Nhiên nên muốn lấy công chúa Nhu Nhiên làm vợ nhưng lo ngại bà nên chưa dám quyết định. Lâu Chiêu Quân muốn nhường địa vị chính thất cho công chúa Nhu Nhiên, Cao Hoan khen ngợi bà. Sau đó bà muốn dọn ra khỏi phủ để đón công chúa Nhu Nhiên, Cao Hoan quỳ xuống lạy tạ bà, nhưng vẫn cho giữ địa vị chính thất.

Thời Cao Trừng, Cao Dương[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 547, Cao Hoan qua đời, con là Cao Trừng kế thừa tước vương, tôn bà làm Bột Hải Vương thái phi. Sang năm 549, Cao Trừng bị giết chết, con trai thứ của bà là Cao Dương lên kế vị. Năm 550, Cao Dương cướp ngôi Bắc Ngụy, lập ra Bắc Tề. Cùng năm, Lâu Chiêu Quân được tôn làm Hoàng Thái hậu.

Thời Văn Tuyên Đế, Lâu Chiêu Quân bắt đầu có ảnh hưởng nhất định đến triều chính. Nhưng Văn Tuyên Đế nghiện rượu, thường có những hành động kì lạ và độc ác trong lúc say. Văn Chiêu Quân rất tức giận, nhân một hôm Cao Dương uống say đã dùng roi đánh ông ta và bảo

Tại sao ta lại sinh ra đứa con như thế chứ.

Văn Tuyên Đế khi đó không làm chủ được hành vi, đã nói

Tôi sẽ gả bà cho người Hồ mọi rợ.

Do đó Lâu Chiêu Quân rất tức giận và không nói gì nữa. Văn Tuyên Đế bình tĩnh lại thì rất sợ hãi, bèn bò trên mặt đất dưới chỗ bà ngồi để làm bà vui, nhưng lại tình làm bà bị ngã và bị thương trong lúc bày trò. Văn Tuyên Đế hối hận, muốn nhảy vào lửa tự thiêu. Lâu Chiêu Quân lo lắng, bèn nắm tay ông kéo lên và tha lỗi cho ông[4]. Văn Tuyên Đế lại sai Cao Quy Ngạn đánh mình đến chảy máu để tạ lỗi với thái hậu, bà cho ngăn lại. Văn Tuyên Đế thề với thái hậu sẽ cai rượu, nhưng cũng chỉ 10 ngày sau lại uống như trước.

Văn Tuyên Đế lại có tư tình với chị của Lý hoàng hậu, muốn nạp vào cung, nên triệu chồng của Lý thị vào cung giết chết. Lý hoàng hậu cũng muốn đưa chị vào cung, nhưng Văn Chiêu Quân can ngăn Văn Tuyên Đế không nên làm việc này. Văn Tuyên Đế nghe theo.

Con trai thứ của bà là Cao Diễn dám thẳng thắn can ngăn Cao Dương, một lần Văn Tuyên Đế quên việc mình đã thưởng tì nữ cho Cao Diễn, nghĩ Cao Diễn chiếm đoạt cung phi của mình nên dùng cán gươm mà đánh. Cao Diễn tuyệt thực, Thái hậu cũng hộ việc này. Văn Tuyên Đế sợ hãi, đành tha cho Cao Diễn.

Thời Phế Đế, Hiếu Chiêu, Vũ Thành[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 559, Văn Tuyên Đế chết[5], con là Cao Ân nối ngôi, tôn bà làm Thái Hoàng thái hậu. Thượng thư Dương Âm phụ chính, muốn triệt tiêu thế lực của các hoàng thúc. Lâu Chiêu Quân ủng hộ Cao Diễn làm vua. Kết quả năm 560, Cao Diễn lên ngôi, lại tôn bà làm Thái hậu như cũ.

Hiếu Chiêu Đế rất có hiếu với Lâu thái hậu. Khi bà bị bệnh, Hiếu Chiếu đích thân chăm sóc 40 ngày đến khi bà khỏi hẳn. Một lần khác bà bị đau ngực, Hiếu Chiêu Đế ông đã tham dự của mình trong vòng 40 ngày mà không cần nghỉ ngơi. Trong một dịp khác, khi cô bị đau ngực Cao Diễn chăm sóc bà và cầu mong mình được thay bà chịu đau.

Khi Cao Diễn giết Cao Ân xong thì bị ngã ngựa. Lâu Chiêu Quân nghe tin đó, tức giận Hiếu Chiêu Đế và không muốn gặp mặt nữa. Không lâu sau, Hiếu Chiêu qua đời.

Người con trai khác của bà là Cao Đam nối ngôi, tức Bắc Tề Vũ Thành Đế. Sang năm sau, 562, Lâu Thái hậu bị bệnh, bèn đổi họ của mình là Thạch, tức Thạch Chiêu Quân, cùng năm, ngày 20 tháng 4 bà băng hà, thọ 62 tuổi, được chôn cất với Cao Hoan ở Chiêu Bình lăng. Vũ Thành Đế trong lúc chịu tang không chịu mặc đồ tang và tiếp tục dùng lễ nhạc.

Lâu Chiêu Quân có 6 con trai, 2 con gái. Mỗi lần sinh con, bà đều mộng thấy điềm lạ: bốn lần thấy rồng, hai lần thấy trăng, hai lần thấy chuột đào đất... Người trong nước có bài ca dao để chế giễu sự bất hiếu của các con trai đối với bà

Cửu long mẫu tử bất tác hiếu.

Con cái[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Nay thuộc huyện Đại Đồng, tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc
  2. ^ Bắc Tề thư, quyển 10
  3. ^ Bắc sử, quyển 14
  4. ^ Bắc Tề thư, quyển 7
  5. ^ Bắc sử, quyển 7