Lễ tịch điền

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Lễ cày tịch điền là một cuộc lễ hội trước đây tại một số quốc gia như Việt NamTrung Quốc, do nhà vua đích thân khai mạc.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Lễ cày tịch điền xuất phát từ Trung Quốc. Lễ tịch điền là ngày hội xuân, khi đó các vua quan lần lượt xuống ruộng cày một vài đường đất nhằm khích lệ nông dân phát triển nông nghiệp đặc biệt là phát triển nông nghiệp lúa nước. Sau khi đã làm lễ cúng Thần Nông, nhà vua đích thân xuống cày 3 luống, các vương tôn cày 7 luống, công khanh cày 7 luống, sĩ phu cày 9 luống. Sau đó thửa ruộng này sẽ được chăm sóc và sản phẩm sẽ dùng để tế lễ năm sau.

Tại Việt Nam, Đại Việt sử ký toàn thư ghi chép việc vào đầu xuân năm 987 vua Lê Đại Hành đã thực hiện lễ cấy tịch điền, để động viên, khuyến khích nhân dân sản xuất[1][2]. Đó là lễ tịch điền đầu tiên mà một vị vua Việt Nam thân hành đi cày mà được sử sách ghi nhận lại[3]. Sau đó nghi lễ này được tiếp tục và trở thành một truyền thống kéo dài đến thời nhà Trần.

Đến thời nhà Nguyễn, vua Gia Long đã quy định ruộng tịch điền và vua Minh Mạng khôi phục lại tập tục này và xem như việc rất cần thiết.[4] Minh Mạng từng xuống Dụ xem việc này “thực là chính sự quan trọng của đấng vương giả”. Minh Mạng xét lại các nghi thức cử hành đại lễ này dưới các triều đại trước và cho rằng nghi lễ cón quá giản lược, vì thế vào năm 1828, nhà vua giao cho bộ Lễ soạn thảo chu đáo các điển lễ làm thành luật lệ lâu dài, và đại lễ kéo dài 5 ngày được tổ chức hàng năm vào tháng 5 âm lịch.[4] Đến thời vua Tự Đức, nghi lễ được chỉnh sửa cho bớt rườm rà và phù hợp với hoàn cảnh hơn. Từ nghi thức cho đến cách tổ chức, người được cày đều được quy định rất cụ thể, rõ ràng, nghiêm túc vì nhà Nguyễn xem đây là một nghi lễ hết sức quan trọng thể hiện sự coi trọng nông nghiệp của nhà vua.[5]

Thời hiện đại, đôi khi các vị nguyên thủ Việt Nam cũng đích thân đi cày. Cũng có lần chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã xuống ruộng để cày vài đường làm nức lòng nhân dân miền bắc Xã hội chủ nghĩa. Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu cũng đã xuống ruộng kéo trâu cày vào các dịp kỷ niệm lễ ban hành luật "Người cày có ruộng". Năm 2009, nghi lễ này chính thức được tái hiện tại Đọi Sơn thuộc tỉnh Hà Nam, với sự tham gia của chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết.[5]

Lễ cày tịch điền dưới các đời vua và các giai thoại khác[sửa | sửa mã nguồn]

Như đã nói ở trên, lễ tịch điền được tiến hành đầu tiên dưới thời vua Lê Đại Hành. Theo "Đại Việt sử ký toàn thư" vào năm 987, khi Lê Đại Hành đích thân xuống ruộng cày ở núi Đọi (Duy Tiên, Hà Nam) đã đào được một hũ vàng. Sau đó, lại cày ở núi Bàn Hải (có lẽ là núi Điệp gần đó) lại được một hũ bạc, vì vậy hai thửa ruộng trên được đặt tên là ^ "Kim ngân điền".[6]

Sau đó đến thời Lý - Trần, các lễ này được tổ chức long trọng hơn và là một trong những ngày hội chính của đất nước vào mùa xuân. Vào thời Lý, Vua Lý Thái Tông là người rất chăm lo cho nông nghiệp nước nhà. Ông đã nhiều lần tự mình xuống cày. Sử cũ có ghi rõ, ngày 14 tháng 10 năm 1030 (Canh Ngọ), vua thân ra ruộng ở Điều Lộ xem gặt; ngày 1 tháng 4 năm 1032(Nhâm Thân) vua đi cày tịch điền ở Đỗ Động Giang, hôm ấy, có nhà nông dâng Vua một cây lúa 9 bông; tháng 3 năm 1042(Nhâm Ngọ), vua đi cày ruộng tịch điền ở Khả Lâm...v..v. Tuy vậy, một số quan lại không ưa gì việc vua đi làm ruộng. Sách Đại Việt sử kí toàn thư còn ghi lại một điển tích sau: " Mùa xuân tháng 2 năm Mậu Dần 1038, Vua ngự ra Bố Hải cày ruộng tịch điền. Vua sai Hữu Ti1 dọn cỏ đắp đàn rồi thân tế Thần Nông, tế xong, vua tự cầm cày để muốn làm lễ tự cày. Các quan tả hữu có người can rặng:

Đó là việc của nông phu, bệ hạ cần gì làm thế?

Vua nói

Trẫm không tự cày thì lấy gì làm xôi cúng, lấy gì cho thiên hạ noi theo?

Nói xong vua đẩy cày ba lần rồi thôi.

Sử thần Ngô Sĩ Liên nói:Thái Tông khôi phục lễ cổ, từ mình cày ruộng tịch điền để nêu gương cho thiên hạ, trên thì để cúng tôn miếu, dưới thì để nuôi muôn dân, công hiệu trị nước dẫn đến của giàu dân đông, nên thay Đến đời Trần, do bận việc giữ nước, chống ngoại bang nên lễ cày tịch điền không hưng thịnh như trước. Tuy nhiên, khi có điều kiện, các vua vẫn đích thân điều hành lễ này. Đến các thời nhà Hồ2, thì hầu như phong tục này không còn được giữ.

Ý nghĩa[sửa | sửa mã nguồn]

Ở các nước nông nghiệp, vua đã biết chăm lo đến nghề nông thật là nên thay. Hơn nữa, như người xưa đã nói, hành động có công hiệu hơn ngàn lời nói. Chẳng thế mà kỷ cương phép nước giữ vững. Đất nước vững vàng, kinh tế cực phát triển, cũng nhờ công lớn lắm của các vua thời trước.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ quyển 1
  2. ^ Ngô Thì Sĩ, Đại Việt sử ký tiền biên, 2011, NXB Văn hóa thông tin, tr 205
  3. ^ Viện Sử học, Biên niên lịch sử cổ trung đại Việt Nam, NXB Khoa học xã hội 1987, tr 80
  4. ^ a ă Lễ Tịch Điền tại Thừa Thiên - Huế
  5. ^ a ă Nguyễn Thu Hường , Nghi thức lễ tịch điền triều Nguyễn , Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước
  6. ^ theo Lịch sử Việt Nam bằng tranh của Trần Bạch Đằng và Việt Sử giai thoại quyển 4 của Nguyễn Hữu Thuần