Nàng tiên cá (phim 1989)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Nàng tiên cá

The Little Mermaid DVD năm 2006
Đạo diễn Ron Clements
John Musker
Sản xuất Howard Ashman
John Musker
Kịch bản Ron Clements
John Musker
Diễn viên Jodi Benson
Pat Carroll
Samuel E. Wright
Christopher Daniel Barnes
Kenneth Mars
Buddy Hacket
Jason Marin
Rene Auberjonois
Âm nhạc Alan Menken (âm nhạc)
Howard Ashman (lời hát)
Phát hành Buena Vista Distribution
Công chiếu Flag of the United States17 tháng 11 năm 1989 (phát hành)
14 tháng 11 năm 1997 (tái phát hành)
Thời lượng 83 phút
Quốc gia Mỹ
Ngôn ngữ Tiếng Anh
Doanh thu $40.000.000 USD (ước lượng)

Nàng tiên cá (tiếng Anh: The Little Mermaid) là một phim hoạt hình thứ 28 của hãng hoạt hình Walt Disney vào năm 1989, cùng tên với truyện cổ của Hans Christian Andersen. Đây là một trong số những bộ phim hoạt hình nổi bật nhất của Disney. Bộ phim hoạt họa đã thành công rực rỡ, cứu nguy cho hãng Walt Disney Pictures và được phát lại 2 lần. Bộ phim khởi đầu thời kỳ "Phục hưng" kéo dài 10 năm, từ năm 1989 đến năm 1999.

Mục lục

Nội dung [sửa]

Lưu ý: Phần sau đây có thể cho bạn biết trước nội dung của tác phẩm.

Ariel, một nàng tiên cá 16 tuổi, con gái vua thủy tề Triton, chán cuộc sống nơi biển khơi, mơ ước cuộc sống của con người trên đất liền. Ariel thường cùng cá Flouder bạn mình thu thập những thứ đồ của con người và đưa cho hải âu Scuttle, người cung cấp thông tin về tập quán của con người và hiểu biết về tập quán đó thì rất nực cười. Bất chấp lời cảnh báo của cha mình và nhạc trưởng của triều đình, cua Sebastian rằng mối quan hệ giữa người cá và con người là điều nghiêm cấm, Ariel vẫn muốn được trở thành một phần của thế giới bên trên, cô đã thu thập đầy một hang bí mật toàn đồ dùng của con người mà cô tìm thấy. Trong khi đó, Sebastian, người đã lãnh trách nhiệm không để cô lên bề mặt nước nữa, cố thuyết phục Ariel rằng tốt hơn hết cô nên sống ở biển khơi.

Một đêm, Ariel đã cùng Flouder lên trên mặt biển để xem bữa tiệc mừng sinh nhật hoàng tử Eric, và Ariel đã phải lòng hoàng tử. Đột nhiên một cơn bão ập đến, tất cả mọi người trên thuyền đều nhảy xuống chèo xuồng vào bờ, trừ Eric vẫn đang đi tìm chú chó Max của mình. Anh cứu được Max nhưng suýt chết đuối, may thay Ariel đã kịp thời cứu được anh và đưa vào bờ. Cô hát cho anh nghe và Eric đã thấy một hình ảnh mờ ảo khi đang nửa tỉnh nửa mơ. Ariel lặn xuống biển khi Max đến chỗ Eric. Eric bị ấn tượng mạnh bởi giọng hát của Ariel, anh thề mình sẽ đi tìm cô gái có giọng hát đó và Ariel cũng quyết tìm cách được lên mặt đất. Vua Triton phát hiện ra con gái đã phải lòng người đất liền. Ông tức giận phá hang bí mật của Ariel. Sau khi Triton đi khỏi, tay sai của mụ phù thủy Ursula đến dụ dỗ cô đi gặp mụ. Nàng tới gặp mụ phù thủy và trao đổi giọng ca tuyệt vời lấy lọ thuốc thần giúp nàng mọc chân. Nhưng để trở thành một con người thực thụ, Ariel phải có nụ hôn với tình yêu chân thành của hoàng tử Eric. Nếu sau thời hạn đã định, nàng không thực hiện được giao kèo, nàng sẽ phải làm nô lệ cho Ursula mãi mãi. Nhưng công chúa người cá Ariel tội nghiệp đâu biết rằng đằng sau cam kết đó Ursula còn có một âm mưu to lớn hơn và cũng đen tối hơn liên quan đến vua Triton.

Sau khi đã có đôi chân của con người trên mặt đất, nàng tiên cá Ariel liền lập tức đến gặp hoàng tử Eric. Vì đã mất giọng hát nên chàng chỉ coi nàng như em gái của mình. Nhưng rồi Ariel cũng dần dần chiếm được tình cảm của hoàng tử và họ đã bắt đầu yêu nhau. Khi hai người chuẩn bị hôn nhau, mụ phù thủy cho tay chân đến cắt ngang và nụ hôn đổ bể. Thấy rằng cứ để chuyện như thế thì không xong, Ursula biến mình thành một cô gái xinh đẹp, lấy giọng hát tuyệt vời của Ariel rồi lập tức lên mặt đất. Hoàng tử Eric bị trúng phép thuật ở chiếc vòng cổ của mụ nên đã tưởng cô gái giả dạng là người yêu của mình, lập tức tổ chức đám cưới.

Được sự giúp đỡ của chú hải Âu đã kêu gọi những muốn thú ngăn chặn đám cưới đang diễn ra, chiêc vòng cổ của mụ Ursula đã bị đứt ,và Ariel đã lấy được giọng hát của mình. Nhưng đã muộn, nàng đã qua thời hạn ở trên mặt đất của mình dù đã giành được tình cảm của hoàng tử. Mụ phù thủy độc ác liền hiện nguyên hình và đưa nàng xuống biển, bất ngờ gặp vua Triton. Nhưng do nàng tiên cá đã cam kết nên chỉ vua mới có thể thay đổi chữ ký của mình cho con gái. Lập tức, ông trở thành nô lệ của Ursula. Mụ đã có cây đinh ba của Triton nên mạnh hơn rất nhiều. Eric thấy vậy bèn xuống thuyền, tự tay lái mũi thuyền đâm thẳng hướng mụ Ursula đứng khiến mụ mất mạng.

Vua Triton khi thấy được rằng Ariel thực sự yêu Eric và chính hoàng tử cũng cứu ông thoát nạn, ông liền dùng đinh ba biến con gái mình thành người đất liền. Ariel và Eric cuối cùng cũng trao được nụ hôn cho nhau. Hai người tổ chức đám cưới với sự góp mặt của cả người cá và người đất liền.

Hết phần cho biết trước nội dung.

Giải thưởng [sửa]

Nàng tiên cá đoạt hai giải Oscar cho nhạc phim hay nhất (Best Original Score) cũng như ca khúc hay nhất (Best Song) cho ca khúc "Under the Sea" (Dưới đáy biển) của Alan Menken và Howard Ashman, hát bởi Samuel E. Wright trong một cảnh đáng nhớ. Một ca khúc khác từ bộ phim, "Kiss The Girl" (Hãy hôn cô gái) cũng đã được đề cử nhưng thua "Under the Sea". Bộ phim cũng giành được hai Quả cầu vàng cho nhạc phim hay nhất (Best Original Score) cũng như ca khúc hay nhất (Best Original Song ) cho ca khúc "Under the Sea". Bộ phim cũng đã được đề cử trong hai mục khác, Phim hay nhất và Ca khúc hay nhất. Alan Menken và Howard Ashman cũng giành được một giải Grammy năm 1991 cho "Under the Sea".

Chuyện hậu trường [sửa]

Nàng tiên cá đánh dấu sự trở lại của tên tuổi hãng Disney sau 10 năm tạm nghỉ do sự thất bại về mặt tài chính quá lớn do The Black Hole sản xuất năm 1979 gây ra. Đây là bộ phim cuối cùng hãng dùng công nghệ vẽ tay và máy quay mô phỏng đơn giản để làm. Hơn 1.100 cảnh nền được sáng tạo với 1000 màu khác nhau khiến hình ảnh trong The Little Mermaid hết sức rực rỡ. Các họa sĩ phải vẽ tổng cộng hơn 1 triệu bức họa mới đủ làm hoạt hình này.[cần dẫn nguồn]

Đây là một trong những hoạt hình sử dùng nhiều hiệu ứng hình ảnh nhất của Disney kể từ sau Fantasia, sản xuất năm 1940. Các đạo diễn đề nghị hàng triệu bong bóng trong phim phải được vẽ tay hoàn toàn chứ không phải sao chép lại. Chính vì thế, để đáp ứng số lượng người khổng lồ cho công việc đó, Disney phải đưa đội ngũ vẽ bong bóng tới Pacific Rim Production, một công ty của Trung Quốc.

Trong quá trình làm, Disney thử áp dụng lần đầu tiên hệ thống sản xuất hoạt hình bằng máy tính CAPS cho cảnh đám cưới cuối phim. Đây là một hệ thống phức tạp gồm máy tạo hình, máy vẽ màu mực, máy quay giúp tô màu cho những bức họa vẽ tay một cách tự động giúp tiết kiệm chi phí cũng như công sức so với kỹ thuật cũ.

Như nhiều bộ phim trước của Disney, các nam nữ diễn viên được mời diễn để làm mẫu tham khảo cho các nhà làm phim hoạt hình. Sherri Stoner chính là hình mẫu sống của nàng tiên cá Ariel. Nhưng không phải ai cũng đồng ý với cách làm này, thậm chí có một họa sĩ từ chối cộng tác vì không muốn làm việc với những hình mẫu sống.

Với những nỗ lực không mệt mỏi và niềm hăng say sáng tạo vô bờ bến, các họa sĩ của Walt Disney một lần nữa đem đến cho khán giả bộ phim hoạt hình hấp dẫn The Little Mermaid. Đây là tác phẩm đầu tiên của Disney nhận giải Oscar kể từ sau Pete’s Dragon sản xuất năm 1977, dù nhiều phim khác đã liên tục được nhận đề cử.

Liên kết ngoài [sửa]