Nữ hoàng băng giá (phim 2013)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Nữ hoàng băng giá
Poster phim tại các rạp
Thông tin phim
Đạo diễn Chris Buck
Jennifer Lee
Sản xuất Peter Del Vecho
Kịch bản Jennifer Lee
Cốt truyện Chris Buck
Jennifer Lee
Shane Morris
Dựa trên Bà Chúa Tuyết của
Hans Christian Andersen
Diễn viên Kristen Bell
Idina Menzel
Jonathan Groff
Josh Gad
Santino Fontana
Âm nhạc Christophe Beck
Dựng phim Jeff Draheim
Hãng sản xuất Walt Disney Pictures
Walt Disney Animation Studios
Phát hành Walt Disney Studios
Motion Pictures
Công chiếu 19 tháng 11, 2013 (2013-11-19) (Rạp El Capitan)
27 tháng 11, 2013 (2013-11-27) (Hoa Kỳ)
13 tháng 12, 2013 (2013-12-13) (Việt Nam)
Độ dài 102 phút[1][2]
Quốc gia Hoa Kỳ
Ngôn ngữ Tiếng Anh
Kinh phí 150 triệu USD [3][4]
Doanh thu 1.274.219.009[4]

Nữ hoàng băng giá (còn gọi là Băng giá, tiếng Anh: Frozen) là bộ phim nhạc kịch tưởng tượng được hoạt hình bằng máy tính năm 2013 của Mỹ do Walt Disney Animation Studios sản xuất và Walt Disney Pictures phát hành.[5] Đây là bộ phim hoạt hình chiếu rạp thứ 53 trong series Walt Disney Animated Classics. Lấy cảm hứng từ câu chuyện cổ tích Bà chúa Tuyết của nhà văn Hans Christian Andersen, bộ phim kể câu chuyện về một nàng công chúa dũng cảm lên đường dấn thân vào một cuộc hành trình gian khó với một anh chàng miền núi cường tráng, dễ rung động nhưng ban đầu hơi thô lỗ cùng chú tuần lộc trung thành của mình và một chàng người tuyết vui nhộn tình cờ gặp để đi tìm người chị gái đang phải sống một mình, một nữ hoàng sở hữu sức mạnh tạo ra băng giá đã vô tình khiến cả vương quốc chìm trong mùa đông vĩnh cửu.

Bộ phim phải trải qua một số lần xử lý cốt truyện trong nhiều năm, trước khi được đồng ý sản xuất năm 2011, với kịch bản của Jennifer Lee và hai đạo diễn là Chris Buck và Lee. Phim có sự tham gia lồng tiếng của các diễn viên Kristen Bell, Idina Menzel, Jonathan Groff, Josh Gad, và Santino Fontana. Christophe Beck, người trước đây đã từng làm việc cho phim ngắn giành giải Oscar của Disney Paperman, được mời biên soạn nhạc nền cho bộ phim, còn bộ đôi hai vợ chồng người viết ca khúc Robert LopezKristen Anderson-Lopez sáng tác các bài hát cho Nữ hoàng băng giá.

Nữ hoàng băng giá ra mắt công chúng lần đầu tại rạp chiếu phim El Capitan vào ngày 19 tháng 11 năm 2013,[6] và được phát hành rộng rãi tại các rạp vào ngày 27 tháng 11. Phim nhận được phản hồi chuyên môn rất tích cực, một số nhà phê bình còn cho rằng đây là bộ phim hoạt hình nhạc kịch hay nhất của Disney từ kỷ nguyên phục hưng của hãng.[7][8] Phim cũng là một thành công lớn về thương mại; thu về trên 1,2 tỷ USD doanh thu phòng vé toàn cầu, trong đó 400 triệu USD là từ Hoa Kỳ và Canada và 240 triệu USD đến từ thị trường Nhật Bản. Đây là phim hoạt hình có doanh thu cao nhất mọi thời đại, phim có doanh thu cao thứ năm mọi thời đại, phim có doanh thu cao nhất năm 2013phim có doanh thu cao thứ ba tại Nhật Bản. Bộ phim đã giành được hai giải Oscar ở hạng mục Phim hoạt hình hay nhấtCa khúc trong phim hay nhất ("Let It Go"), một giải Quả cầu vàng cho phim hoạt hình hay nhất, giải BAFTA cho phim hoạt hình hay nhất, năm giải Annie (trong đó có hạng mục Phim hoạt hình hay nhất), hai giải của Hiệp hội Phê bình Phim Phát sóng ở hạng mục Phim hoạt hình hay nhấtBài hát trong phim hay nhất ("Let It Go").[9]

Cốt truyện[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ phim mở đầu với cảnh một nhóm người đang khoét băng thành những tảng nước đá lớn, mang đi bán kiếm tiền. Trong số đó có Kristoff hồi còn nhỏ và chú tuần lộc của mình, Sven.

Cách đó không xa, Elsa, công chúa vương quốc Arendelle, mang trong mình sức mạnh tạo ra băng giá. Một đêm nọ, khi đang chơi đùa, nàng vô tình làm bị thương em gái mình là Anna. Nhà vua và hoàng hậu nhờ tới sự giúp đỡ của đám thạch yêu; và vị trưởng họ, ông Pabbie lớn, đã chữa lành cho Anna và xoá đi mọi ký ức của nàng về phép thuật của chị gái. Ông cũng nói với Elsa rằng rất may phép thuật chỉ tác động tới đầu Anna, nên ông có thể chữa được, nhưng nếu đó là trái tim thì sẽ không hề dễ dàng; hơn nữa sức mạnh của nàng sẽ chỉ lớn dần lên, và nàng phải học cách kiểm soát nó: nỗi sợ hãi chính là kẻ thù của nàng. Quyết định giấu kín món quà đặc biệt của con gái cho tới khi nàng học được cách điều khiển nó, gia đình hoàng gia đã ngăn cách hai nàng công chúa với thế giới bên ngoài. Họ lớn lên chỉ trong bốn bức tường của lâu đài mà thôi. Elsa, sợ rằng mình sẽ lại làm ai đó bị thương thêm một lần nữa, nên hầu như nàng chỉ sống một mình trong phòng. Anna không được chơi với chị, và điều đó đã vô tình tạo nên một vết rạn nứt trong tình chị em khi họ lớn lên. Khi Anna và Elsa là những thiếu niên, thì đức vua và hoàng hậu không may gặp bão trên biển và qua đời.

Ba năm sau, khi Elsa hai mươi mốt tuổi còn Anna mười tám tuổi, người dân xứ Arendelle tưng bừng chuẩn bị cho lễ đăng quang mùa hè của Elsa. Trong số những vị khách cao cấp tới thăm có Công tước xứ Weselton, một thương gia muốn tìm cách khai thác và trục lợi từ vương quốc Arendelle. Quá phấn khích vì cánh cổng lâu đài được mở cho công chúng trong suốt một ngày, Anna đi khám phá khắp nơi trong thị trấn và gặp Hoàng tử Hans của Quần đảo phương Nam trong một tình huống vụng về và lúng túng. Lễ đăng quang của Elsa trôi qua trôi chảy mà không gặp phải sự cố nào, và trong bữa tiệc hai chị em bắt đầu làm hàn gắn lại sợi dây tình cảm với nhau. Anna gặp lại Hans trong bữa tiệc, họ cùng nhau nhảy múa và giữa họ nhanh chóng xuất hiện tình cảm với nhau. Hans cầu hôn Anna, và nàng lập tức đồng ý. Anna nhờ Elsa ban phúc cho lễ cưới của hai người, nhưng nữ hoàng từ chối, và giữa hai chị em nảy ra tranh cãi. Trong cơn tức giận, không kiềm chế được mình, Elsa để lộ quyền năng của mình cho tất cả mọi người.

Sợ hãi, Elsa bỏ chạy, và trong lúc đó nàng vô tình phủ một mùa đông vĩnh cửu lên khắp vương quốc. Bỏ đi mà không hề quay lại, nàng không che giấu nữa mà giải phóng tất cả sức mạnh của mình, tự xây cho mình một lâu đài băng khổng lồ trên núi và trong lúc đó, không biết rằng mình đã mang tới sự sống cho chàng người tuyết mà hồi còn nhỏ nàng đã làm với em gái mình, Olaf. Anna lên đường đi tìm Elsa, quyết tâm đưa chị gái mình trở về Arendelle, chấm dứt mùa đông và hàn gắn lại tình cảm giữa họ. Trong khi đang đi mua đồ rét, nàng gặp một anh chàng sống trên núi tên là Kristoff và con tuần lộc của anh ta, Sven. Anna thuyết phục Kristoff đưa mình tới Núi Bắc để tìm chị. Đêm đó, họ gặp bầy sói và phải chiến đấu vất vả mới thoát nạn. Sáng hôm sau, ba người gặp Olaf, và Olaf đưa họ tới lâu đài của Elsa.

Một lần nữa ở lâu đài băng, Anna cố thuyết phục Elsa trở về, nhưng trong thâm tâm Elsa vẫn sợ sẽ lại làm bị thương em gái mình một lần nữa. Do Anna cứ khăng khăng bằng được, Elsa lại bị kích động và sức mạnh băng giá của nàng vô tình đánh trúng vào ngực Anna. Điều đó khiến Elsa càng thêm đau khổ vì ý nghĩ đã làm hại em mình, và nàng đã tạo ra một con quái vật tuyết khổng lồ ném Anna và bạn bè của nàng ra ngoài. Sau khi họ chạy thoát, Kristoff để ý thấy mái tóc Anna đang dần chuyển sang màu trắng. Nhớ lại ngày xưa mình đã từng chứng kiến Anna bị thương được chữa lành thế nào, anh quyết định đưa nàng về chỗ đám thạch yêu, gia đình nuôi của anh. Ở đó, ông Pabbie lớn cho họ biết rằng trái tim của Anna đã bị băng giá, và trừ phi có "một nghĩa cử của tình yêu đích thực" làm tan băng giá trong trái tim nàng, thì nàng sẽ hoá thành một khối băng mãi mãi. Kristoff đưa Anna lao về Arendelle, với niềm tin rằng một nụ hôn của tình yêu đích thực từ Hans sẽ cứu sống nàng.

Trong lúc đó, Hans, người xung phong đưa một đội quân đi tìm Anna, phát hiện ra lâu đài băng của Elsa và đã bắt được nàng sau khi đương đầu với hai tên lính do Công tước gửi đi để giết nàng. Elsa bị giam trong ngục ở Arendelle; và Hans đã tới cầu xin nàng hãy kết thúc mùa đông ở vương quốc, nhưng Elsa thú nhận rằng mình không biết phải làm thế nào. Kristoff đưa Anna về đoàn tụ với Hans rồi ra đi. Anna giải thích với Hans rằng chàng phải hôn nàng nếu không nàng sẽ chết, nhưng Hans từ chối. Hắn nói hắn chỉ giả vờ yêu nàng để chiếm đoạt ngôi báu của Arendelle, bởi trong gia đình hắn là đứa con thứ mười ba nên hắn sẽ chẳng bao giờ có cơ hội được lên ngôi cai trị đất nước. Hắn tắt lửa lò sưởi, khoá trái Anna trong phòng, loan tin rằng nàng đã chết, lên ngôi ở Arendelle, và ra lệnh hành quyết Elsa.

Elsa trốn thoát khỏi phòng giam và chạy về phía cái vịnh đang đóng băng. Olaf tìm thấy Anna lạnh giá một mình trong phòng và cho nàng biết Kristoff yêu nàng. Thấy Kristoff và Sven đang trở lại, hai người chạy ra vịnh để tìm anh. Hans ngăn Elsa lại và nói dối nàng rằng Anna đã chết chính vì nàng. Trong cơn tuyệt vọng của Elsa, trận bão tuyết khủng khiếp ngừng lại, cho Kristoff và Anna có đủ thời gian để chạy tới chỗ nhau. Nhưng để ý thấy Hans chuẩn bị giết chị gái mình, Anna đưa mắt nhìn Kristoff lần cuối rồi lao ra giữa Elsa và Hans và ngay lập tức hoá thành một khối băng. Thanh kiếm của hắn vỡ vụn khi chạm tới người Anna, và hắn bị bắn ra xa. Elsa ngước mắt lên và thấy em gái mình như vậy, nàng ôm lấy em và khóc lóc thảm thiết. Trong khi Elsa khóc thương em, lớp băng trong trái tim Anna và quanh người nàng bắt đầu tan dần. Bởi quyết định hy sinh bản thân để cứu chị chính là nghĩa cử của tình yêu đích thực.

Nhận ra rằng tình yêu chính là chìa khoá để kiểm soát sức mạnh của mình, Elsa giờ đây đã có thể làm tan băng giá đang bao trùm vương quốc, mà vẫn không để cho Olaf bị tan chảy dưới cái nóng mùa hè. Anna bực tức đấm Hans ngã xuống nước, và hắn bị đem trả lại về Quần đảo phương Nam để chịu hình phạt vì những tội lỗi của hắn, còn Elsa cắt đứt giao thương với Weselton. Anna mua cho Kristoff một chiếc xe kéo mới và họ trao cho nhau một nụ hôn. Giờ đây, khi đã điều khiển được sức mạnh của mình, Elsa tạo ra một sân băng lớn và tuyết rơi ngay trong vương quốc cho mọi người thoải mái vui đùa. Tình cảm của hai chị em lại đằm thắm như xưa, Elsa tặng Anna một đôi giày trượt tuyết, và nàng hứa với em rằng cánh cổng lâu đài sẽ không bao giờ bị đóng lại nữa.

Diễn viên lồng tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

Kristen Bell by Gage Skidmore.jpg Idina Menzel Defense.gov Crop.png
Jonathan Groff 2010.jpg Josh Gad at the 2010 Streamy Awards.jpg Santino Fontana performing Broadway's Cinderella.jpg
Hàng trên (từ trái sang): Kristen Bell, Idina Menzel
Hàng dưới (từ phải sang): Jonathan Groff, Josh Gad and
Santino Fontana
  • Kristen Bell trong vai Anna, công chúa 18 tuổi[10]:13 của vương quốc Arendelle và là em gái của Elsa[11]
    • Livvy Stubenrauch trong vai Anna lúc 5 tuổi[10]:2 (phần giọng nói)[12]
    • Katie Lopez trong vai Anna lúc 5 tuổi (phần hát)
    • Agatha Lee Monn trong vai Anna lúc 9 tuổi[10]:9 (phần hát)[13]
  • Idina Menzel trong vai Elsa, Nữ chúa tuyết 21 tuổi[10]:16 và là chị gái của Anna[11][14]
    • Eva Bella trong vai Elsa lúc 8 tuổi[10]:2 [15][16]
    • Spencer Lacey Ganus trong vai Elsa lúc 12 tuổi[10]:10 [16]
  • Jonathan Groff trong vai Kristoff, một chàng trai sống trên núi, có một con tuần lộc tên là Sven[17][18]
  • Josh Gad trong vai Olaf, chàng người tuyết hài hước luôn ao ước được trải nghiệm cảm giác mùa hè[11][19][20]
  • Santino Fontana trong vai Hans, hoàng tử đến từ Quần đảo phương Nam[17]
  • Alan Tudyk trong vai Công tước xứ Weselton[20]
  • Ciarán Hinds trong vai ông Pabbie lớn, vua của đám thạch yêu[21]
  • Chris Williams trong vai Oaken, chủ Trạm trung chuyển và nhà tắm hơi Oaken lang thang (Wandering Oaken's Trading Post and Sauna)[22]
  • Maia Wilson trong vai Bulda, một con thạch yêu[23]
  • Jack Whitehall trong vai một con thạch yêu[24]
  • Maurice LaMarche trong vai Đức vua của vương quốc Arendelle, bố của Anna và Elsa[23]
  • Jennifer Lee trong vai Hoàng hậu của vương quốc Arendelle, mẹ của Anna và Elsa'[25]

Quá trình phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Nguồn gốc[sửa | sửa mã nguồn]

Bản vẽ phác thảo ý tưởng ban đầu từ dự án phim hoạt hình vẽ tay đã bị huỷ bỏ của Disney, Nữ Chúa Tuyết.[26]

Năm 1943, Walt DisneySamuel Goldwyn đã xem xét khả năng hợp tác sản xuất một bộ phim về tiểu sử của nhà văn và nhà thơ Hans Christian Andersen, trong đó xưởng phim của Goldwyn sẽ quay các cảnh đời thực về cuộc đời của Andersen và Disney sẽ sản xuất các phân cảnh hoạt hình. Các phân cảnh hoạt hình dự định sẽ bao gồm cả câu chuyện về những tác phẩm của Andersen, như Nàng tiên cá, Cô bé bán diêm, Bà Chúa Tuyết, Thumbelina, Vịt con xấu xí, Đôi giày đỏ, và Bộ quần áo mới của Hoàng đế. Disney và các hoạ sĩ hoạt hình của ông gặp khó khăn với truyện Bà Chúa Tuyết, bởi họ không tìm được cách chuyển thể và tái hiện lại nhân vật bà Chúa Tuyết tới các khán giả hiện đại. Cho dù vào thời điểm những năm 1940, bộ phận sản xuất hoạt hình của Disney thấy được tiềm năng lớn lao từ nguồn cốt truyện này, nhưng nhân vật Bà Chúa Tuyết khiến hãng gặp quá nhiều vấn đề và thách thức. Điều này, cùng với nhiều trở ngại khác, dẫn đến kết quả là dự án của Disney-Goldwyn đã bị huỷ bỏ. Goldwyn tiếp tục sản xuất phiên bản phim người đóng của riêng mình vào năm 1952, có tên gọi Hans Christian Andersen, với Danny Kaye trong vai Andersen, Charles Vidor làm đạo diễn, Moss Hart viết kịch bản, và Frank Loesser sáng tác các bài hát. Thay vì dùng hoạt hình, tất cả các câu chuyện cổ tích của Andersen đều được kể lại dưới dạng các bài hát và múa ballet do người đóng, giống như những phần khác của phim. Bộ phim nhận được sáu đề cử giải Oscar vào năm sau đó. Quay trở lại với Disney, Bà Chúa Tuyết, cùng với các câu chuyện cổ tích khác của Andersen (bao gồm cả Nàng tiên cá), đã bị xếp vào ngăn tủ.[27]

Các nỗ lực sau này[sửa | sửa mã nguồn]

"Phiên bản truyện Bà Chúa Tuyết ban đầu của nhà văn Hans Christian Andersen là một câu chuyện khá tối và không dễ dàng để chuyển thành phim. Với chúng tôi bước ngoặt đã đến khi chúng tôi tìm cách đưa những đức tính và phẩm chất thực sự của con người vào nhân vật Bà Chúa Tuyết này. Khi chúng tôi quyết định sáng tạo nên Bà Chúa Tuyết Elsa và hai nhân vật chính là hai chị em Anna, điều đó đã mở đường và cho phép chúng tôi cảm nhận được các nhân vật, một phần nào đó chuyển tải được những gì họ đã trải qua và từ đó sẽ thích hợp với các khán giả ngày nay. Bộ phim này chứa rất nhiều nhân vật và nhiều mối quan hệ phức tạp trong đó. Có những lần Elsa làm những điều độc ác nhưng khi bạn hiểu được những việc làm ấy thực sự bắt nguồn từ đâu, từ mong muốn tự bảo vệ chính mình, bạn sẽ luôn thông cảm cho cô ấy. "Lấy cảm hứng" nghĩa là như thế. Ở đó có tuyết và ở đó có băng và ở đó có một Nữ hoàng, ngoại trừ những yếu tố đó thì chúng tôi đã phải thay đổi và chỉnh sửa rất nhiều. Chúng tôi rất cố gắng để mang tới một tầm nhìn và quy mô như các bạn mong đợi nhưng theo cách mà chúng tôi có thể hiểu các nhân vật và cảm nhận được họ."

— Nhà sản xuất Peter Del Vecho, nói về những khó khăn khi chuyển thể truyện Bà Chúa Tuyết[28]

Vào cuối những năm 1990, Walt Disney Feature Animation bắt đầu sản xuất phiên bản chuyển thể truyện Bà Chúa Tuyết riêng của họ sau thành công vang dội của các bộ phim gần đây, nhưng dự án hoàn toàn bị huỷ bỏ vào cuối năm 2002, khi Glen Keane từ bỏ dự án này.[26] Kể cả trước đó, Harvey Fierstein đã chuyển phiên bản truyện của mình cho các giám đốc điều hành của Disney, nhưng bị từ chối. Dick Zondag và Dave Goetz đã thử làm việc này, nhưng đều thất bại. Disney lại một lần nữa xếp dự án vào ngăn tủ. Michael Eisner, CEO và chủ tịch sau đó của Công ty Walt Disney, đã đề nghị hỗ trợ dự án này và gợi ý cho họ cùng làm với John Lasseter của Pixar Animation Studios, khi các xưởng phim này làm mới lại hợp đồng với nhau.[27]

Dự án được phục hồi trở lại khoảng năm 2008 khi Chris Buck trình lên Disney phiên bản chuyển thể của ông.[29] Vào thời điểm đó, dự án có tên gọi Anna và Nữ chúa tuyết (Anna and the Snow Queen), và dự định sẽ được sản xuất bằng công nghệ hoạt hình truyền thống.[30] Đến đầu năm 2010, dự án một lần nữa lại lâm vào bế tắc, khi xưởng phim không thể tìm cách xử lý được cốt truyện cũng như nhân vật Nữ chúa tuyết.[31][32]

Giai đoạn phục hồi[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 22 tháng 12 năm 2011, tiếp nối thành công vang dội của phim Nàng công chúa tóc mây (Tangled), Disney thông báo một tên mới cho bộ phim, Frozen (Băng giá), và ngày phát hành, 27 tháng 11 năm 2013, cùng với một nhóm sản xuất khác với lần trước.[33] Một tháng sau, thông tin bộ phim sẽ là một sản phẩm hoạt hình máy tính dưới định dạng 3D lập thể đã được xác nhận, thay vì sử dụng công nghệ hoạt hình vẽ tay truyền thống như dự định.[26] Vào ngày 5 tháng 3 năm 2012, họ thông báo Chris Buck sẽ là đạo diễn, cùng với John Lasseter và Peter Del Vecho là các nhà sản xuất.[34]

Sau khi Disney quyết định đề xuất việc đưa dự án phim Nữ Chúa Tuyết tiếp tục phát triển trở lại, một trong những thử thách chính mà Buck và Del Vecho phải đối mặt là nhân vật Bà Chúa Tuyết, vốn là một nhân vật phản diện trong phiên bản trước đó của truyện. Buck và Del Vecho chuyển các storyboard (bảng truyện) của họ cho John Lasseter, với toàn bộ nhóm sản xuất tạm ngừng công việc để tới một buổi hội thảo và nghe suy nghĩ của Lasseter về dự án đang thực hiện này. Nhà thiết kế sản xuất Michael Giaimo, nhớ lại; "Đó là một sự thay đổi với trò chơi này...Tôi nhớ John nói rằng phiên bản mới nhất của cốt truyện Bà Chúa Tuyết mà Chris Buck và nhóm của ông sáng tạo nên thật thú vị và rất vui vẻ. Nhưng các nhân vật lại không đáng nhớ lắm. Họ không có nhiều khía cạnh và thiếu đi tính đa dạng. Đó chính là lý do vì sao John cảm thấy các khán giả sẽ không thực sự hiểu và cảm nhận được họ." Nhóm sản xuất sau đó đã suy nghĩ và tìm cách giải quyết các vấn đề của bộ phim, viết nháp một số dị bản cho câu chuyện Bà Chúa Tuyết cho tới khi cốt truyện và các nhân vật nghe có vẻ liên quan tới nhau. Cuối cùng, cả nhóm quyết định viết lại kịch bản để nhân vật chính của phim, Anna (vốn dựa trên nhân vật Gerda trong truyện Bà chúa Tuyết), trở thành em gái của Elsa, thiết lập một cách hiệu quả mối quan hệ gia đình năng động giữa các nhân vật.[35] "Từ giờ phút đó trở đi, dự án bắt đầu hình thành và bước vào những giai đoạn rất thú vị. Một khi chúng tôi nhận ra rằng các nhân vật này có thể là chị em và có quan hệ với nhau, mọi thứ đã thay đổi," Del Vecho tỏ ra rất say sưa và hăng hái.

Viết kịch bản[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 3 năm 2012, Jennifer Lee, một trong các nhà biên kịch của phim Wreck-It Ralph, được Del Vecho mời biên kịch cho phim Frozen.[36][37] Sau này Lee chia sẻ rằng sau khi Wreck-It Ralph đã hoàn thành, công việc của cô là đi xem và đưa ra nhận xét cho các dự án phim khác, và "chúng tôi gần như nhập tâm với những gì chúng tôi nhận xét đó."[38]

Theo Lee, một số ý tưởng cốt lõi đã xuất hiện từ các bản nháp ban đầu của Buck và Del Vecho, ví dụ như mâu thuẫn "trái tim băng giá" của phim: "Đó là ý tưởng và cũng là phương châm... một nghĩa cử của tình yêu đích thực sẽ làm tan trái tim bâng giá."[38] Họ cũng đã biết rằng bộ phim sẽ kết thúc với hình ảnh tình yêu đích thực là tình cảm giữa các anh chị em trong gia đình chứ không phải là một tình yêu lãng mạn, theo cách rằng "Anna sẽ cứu Elsa. Nhưng lúc đó chúng tôi không biết sẽ phải làm gì và làm thế nào."[38] Lee kể rằng Edwin Catmull, chủ tịch của Disney Animation, nói với cô từ đầu về cái kết của bộ phim: "Đầu tiên và trên hết, không cần biết cô sẽ làm gì với cốt truyện, cô cứ thoải mái làm theo ý mình. Nhưng cô phải đi đến được cái kết như thế. Nếu làm được, thật tuyệt vời. Nhưng nếu không, mọi thứ sẽ hỏng bét."[39]

Trước khi Lee tham gia dự án, một nhà biên kịch khác đã lên cốt truyện cho phim, và Anderson-Lopez cùng Lopez đã thử viết một vài ca khúc theo kịch bản đó nhưng không có cái nào dùng được và về sau phải xoá bỏ hết.[40]:9:07 Phải đến sau này khi "cả kịch bản đã bùng nổ" các nhạc sĩ mới có cơ hội "dồn hết ADN [của họ]" vào cốt truyện mới của Lee.[40]:30:32 Nhóm sản xuất "gần như phải bắt đầu lại từ đầu và... chỉ còn 17 tháng để thực hiện," khiến cho lịch làm việc của họ trở nên cực kỳ căng thẳng và rằng "mọi sự lựa chọn đều phải được quyết định nhanh."[38]

Các bản nháp trước của cốt truyện có nhiều điểm khác biệt rất lớn so với bản cuối cùng. Trong kịch bản đầu tiên, ngay từ đầu Elsa đã là nhân vật phản diện; Elsa bắt cóc Anna khi cô đang ở lễ cưới của chính mình để cố tình làm trái tim cô băng giá, sau đó dùng một đội quân người tuyết để xâm chiếm thị trấn với ý định bắt cóc Anna lần nữa để làm băng giá trái tim cô hoàn toàn.[40]:8:42 Đến khi Lee tham gia, cảnh đầu tiên là cảnh Elsa tìm mọi cách đánh vào trái tim của Anna với sức mạnh băng giá của mình; sau đó "cả cảnh hai là cảnh Anna tìm cách đến chỗ Hans để hôn anh và Elsa cố ngăn chặn điều đó."[38] Buck còn nói rằng trong kịch bản ban đầu họ tìm cách khiến khán giả thông cảm với Anna bằng cách chú trọng vào sự buồn tủi của cô khi chỉ là người "thừa" trong khi Elsa được là người "kế vị".[41] Kịch bản ban đầu cũng có nhịp độ khác, giống với một bộ phim phiêu lưu hành động hơn là phim hài-nhạc kịch.[36]

Một trong những bước ngoặt quan trọng trong quá trình sáng tác kịch bản phim đó là sự ra đời của ca khúc "Let It Go" do hai nhạc sĩ Lopez và Anderson-Lopez sáng tác, buộc cả đoàn làm phim phải lật lại toàn bộ ý tưởng cốt lõi của bộ phim và viết lại để Elsa trở thành một nhân vật phức tạp, dễ bị tổn thương và thông cảm hơn nhiều.[35] Thay vì trở thành một nhân vật phản diện như các nhà sản xuất đã hình dung, Elsa trong mắt hai nhạc sĩ là "một cô gái sợ hãi đang vật lộn để điều khiển và làm chủ món quà mình được ban tặng."[42] Lee nhớ lại: "Bobby và Kristen nói rằng họ đang đi dạo trong Công viên Prospect và chợt nghĩ xem [nhân vật Elsa sẽ] cảm thấy như thế nào. Quên đi mặt phản diện của cô ấy. Chỉ nghĩ về cảm giác cô ấy sẽ phải trải qua thôi. Và ý tưởng về sự tự giải phóng bản thân, cho thế giới thấy mình là ai, điều mà cô đã phải giữ kín trong lòng bấy lâu, và cuối cùng cô ấy được tự do một mình, rồi lại đến nỗi buồn khi cuối cùng cô ấy vẫn phải sống cô đơn. Đó chưa phải điều hoàn hảo, nhưng nó có sức mạnh ghê gớm."[38] Del Vecho giải thích rằng ca khúc "Let It Go" đã thay đổi Elsa thành một con người "bị nỗi sợ hãi thống trị còn Anna được tình yêu chính mình và mọi người dẫn lối," và cuối cùng khiến Lee phải "viết lại cảnh đầu và dần dần sửa lại cả phim. Đó là lúc chúng tôi thực sự hiểu bộ phim cũng như các nhân vật trong đó."[43]

Một bước ngoặt khác của phim là việc phát triển mâu thuẫn truyện sao cho đến gần cuối nhân vật Hans mới được hé lộ là nhân vật phản diện chính của phim.[43] Hans thậm chí còn không xuất hiện trong những bản nháp đầu tiên của phim, rồi đến khi được sáng tạo ra, Hans cũng chưa phải là nhân vật phản diện, mãi sau này mới trở thành một con người độc ác.[43] Del Vecho nói, "Chúng tôi nhận ra rằng muốn bộ phim kết thúc bất ngờ, bạn phải tin rằng Hans chính là đáp án phải giải... [còn nếu] anh ta không phải là đáp án, thì anh ta lại trở thành Kristoff mất rồi.... Nếu bạn có thể khiến khán giả nghĩ rằng họ đã nhận ra bộ phim sẽ kết thúc thế nào, thì bạn sẽ làm họ bất ngờ bằng cách lật lại vấn đề theo hướng khác."[43] Lee hiểu rằng trong kịch bản cuối cùng cô phải làm sao để Hans trở thành kẻ chống lại mọi người và đầy "mâu thuẫn" suốt mạch truyện.[38] Ví dụ, Hans sẽ là tấm gương phản chiếu hành vi của các nhân vật khác: "Anh ta bắt chước [Anna] và nói những lời ngốc nghếch với cô... Công tước xứ Weselton là một tên ngốc và ngược lại Hans cũng thế. Còn với Elsa anh ta là một anh hùng."[38] Sẽ khó mà khiến tình yêu của Anna quay sang Kristoff một cách tự nhiên nếu không làm cho sự phản bội của Hans trở nên dễ đoán, bởi khán giả phải "hiểu được rằng... Anna cảm thấy điều gì đó nhưng chưa thực sự hiểu được...."[38]

Lee cũng phải suy nghĩ xem sẽ sáng tạo tính cách của Anna như thế nào, bởi một số đồng nghiệp của cô cho rằng Anna nên là một nhân vật vụng về kiểu như Vanellope von Schweetz trong Wreck-It Ralph.[36] Lee không đồng ý với cách nghĩ đó, nhưng cô cũng phải mất đến gần một năm để tìm cách diễn giải một cách thuyết phục rằng "đây là cuộc hành trình của Anna. Không hơn không kém."[38] Cuối cùng, Lee đã chọn cách diễn tả cuộc hành trình của Anna cũng giống như một cuộc hành trình đi tìm bản thân của tuổi mới lớn, "trong đó cô phát triển từ một người có cách nhìn ngây thơ về cuộc sống-bởi cô sống cô đơn suốt tuổi thơ của mình-trở thành một người có cách nhìn phức tạp và chín chắn hơn về tình yêu, khi cô hiểu được rằng tình yêu đích thực phải đánh đổi bằng sự hi sinh."[36] Lee cũng phải từ bỏ một số ý tưởng cô thích từ đầu, ví dụ như một phân cảnh về mối quan hệ giữa Anna và Elsa lúc thiếu niên, vốn không phù hợp với ý tưởng về sự xa cách giữa hai chị em.[36]

Để xây dựng mối quan hệ chị em giữa Anna và Elsa, Lee lấy cảm hứng từ mối quan hệ của chính mình với chị gái.[38][44] Lee nói rằng chị gái mình là "một nguồn cảm hứng lớn cho nhân vật Elsa,"[38] và gọi chị gái là "Elsa của tôi" trong một buổi phỏng vấn với báo Los Angeles Times và bước trên thảm đỏ tại lễ trao giải Oscar lần thứ 86 cùng cô.[45] Lee giải thích, "phải... đánh mất nhau rồi tìm lại được nhau khi trưởng thành, đó là một phần quan trọng trong cuộc sống của tôi."[38]

Nhóm sản xuất cũng biến Olaf từ một nhân vật sidekick khó chịu của Elsa thành sidekick ngây thơ và hài hước của Anna.[38] Lee sau này tiết lộ rằng Olaf là "nhân vật khó giải quyết nhất."[38]

Giải pháp cho vấn đề chính xác Anna sẽ cứu Elsa ở đoạn đỉnh điểm của bộ phim như thế nào đã được họa sĩ bảng truyện John Ripa giải quyết. Trong buổi họp Ripa giới thiệu cách xử lý của mình, toàn bộ những người có mặt yên lặng hoàn toàn cho tới khi Lasseter nói, "Tôi chưa từng thấy điều gì như vậy," và sau đó toàn thể mọi người đứng dậy vỗ tay.[46]:31

Cũng trong thời gian này, nhóm sản xuất duyệt qua các bản nháp cho phân cảnh đầu tiên và trên thực tế, bản nháp của cảnh này dài và chi tiết hơn nhiều so với bản phim cuối cùng, ví dụ như có cảnh một con thạch yêu nói giọng Brooklyn xuất hiện để giải thích câu chuyện đằng sau phép thuật của Elsa, và một vị quan trong vương quốc mà Lee định mời diễn viên hài Louis C.K. lồng tiếng[38] Sau khi phân tích các chi tiết đó, các nhà làm phim đã quyết định cắt bớt đi bởi họ cho rằng những chi tiết đó khiến "câu chuyện trở nên phức tạp hơn những gì họ có thể làm được trong 90 phút phim."[38] Del Vecho giải thích về điều này, "chúng tôi càng cố giải thích nhiều ở đầu phim thì phim càng phức tạp."[47]

Sản xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Nữ diễn viên Kristen Bell được chọn cho vai diễn lồng tiếng nhân vật Anna vào ngày 5 tháng 3 năm 2012.[34][48] "Từ khi tôi còn 4 tuổi, tôi đã luôn mơ ước được tham gia vào một bộ phim hoạt hình của Disney," Bell nói. "Đó là mục tiêu đầu tiên tôi từng đặt ra cho bản thân mình. Và nó có vẻ rất khó trở thành hiện thực." Đạo diễn Lee nói rằng việc lựa chọn Bell cho Anna chịu ảnh hưởng nhiều sau khi các nhà làm phim nghe một loạt các bản thu âm giọng hát của Bell khi cô còn nhỏ, với một số ca khúc từ phim Nàng tiên cá, bao gồm "Part of Your World."[49] Bell hoàn thành các buổi thu âm khi cô đang mang thai, và sau đó phải thu âm lại một số đoạn sau khi sinh, bởi giọng cô lúc này đã trầm xuống.[50] Khi được hỏi về cách cô đến với nhân vật Anna, Kristen Bell trả lời, "Tôi rất hào hứng được kể điều đó với mọi người. Tôi được trở thành một phần của bộ phim thuộc thể loại tôi rất thích xem hồi còn nhỏ," cô nói. "Tôi luôn yêu thích hoạt hình Disney, nhưng luôn có một điều gì đó về những nhân vật nữ trong phim mà tôi không thể đạt tới được. Tư thế và dáng đi của họ quá tuyệt vời và lời nói của họ quá cầu kỳ chải chuốt, và tôi cảm thấy mình đã thực sự khiến cô gái, nhân vật của mình gần gũi hơn và khác lạ hơn và cẩu thả hơn và sôi nổi và vụng về hơn. Tôi rất tự hào về điều đó."[51]

Frozen là "một bộ phim hơi hướng cho con gái của Disney. Tôi thực sự tự hào về điều đó. Phim có tất cả mọi thứ, nhưng cơ bản chủ yếu nói về tình chị em. Tôi nghĩ rằng giữa hai cô gái này có sự cạnh tranh với nhau, nhưng họ cũng luôn tìm cách bảo vệ nhau - chị em gái phức tạp như thế đấy. Đó là một mối quan hệ tuyệt vời nên có trong các bộ phim, đặc biệt là dành cho các em nhỏ."

Idina Menzel, nói về ấn tượng của cô với Frozen và tầm quan trọng của mối quan hệ gia đình[49]

Idina Menzel, một diễn viên Broadway kỳ cựu, được chọn vào vai Elsa. Menzel trước đây đã từng thử giọng cho phim Tangled nhưng không được chọn vào vai diễn. Tuy nhiên, đạo diễn tuyển vai của Tangled là Jamie Sparer Roberts đã lưu lại một bản thu âm phần thể hiện của Menzel trên iPhone, và trên cơ sở đó, mời cô thử giọng cùng Bell cho phim Frozen.[52] Trước khi chính thức được lựa chọn, Menzel và Bell đã gây ấn tượng mạnh với các đạo diễn và nhà sản xuất tại một buổi đọc thử; sau khi cùng nhau đọc một đoạn lời thoại trong kịch bản, họ đã song ca ca khúc "Wind Beneath My Wings" (bởi khi đó chưa có ca khúc nào được viết cho phim cả).[14][35][52] Bell nảy ra ý tưởng này khi tới thăm nhà Menzel tại California để chuẩn bị diễn thử.[52][53] Hai nhà soạn nhạc của phim cũng có mặt tại buổi hôm đó; Anderson-Lopez nói rằng "Lasseter như được ở trên thiên đường" khi nghe Menzel và Bell hòa giọng, và kể từ lúc đó ông quả quyết "Kristen Bell và Idina Menzel phải tham gia bộ phim!"[40]:32:07 Lee nói, "Họ hát cùng nhau đúng như chị em và không có đôi mắt nào trong phòng không ướt khi nghe họ hát."[43] Trong khoảng thời gian từ tháng 12 năm 2012 đến tháng 6 năm 2013, các vai diễn phụ còn lại trong phim lần lượt được thông báo; bao gồm Jonathan Groff trong vai Kristoff (19 tháng 12 năm 2012),[18] Alan Tudyk trong vai Công tước xứ Weselton, Santino Fontana trong vai Hoàng tử Hans, và Josh Gad trong vai Olaf.[20]

Vào ngày 30 tháng 11 năm 2012, Disney thông báo Jennifer Lee, một trong số những nhà viết kịch bản cho phim Wreck-It Ralph, đã cùng với Buck đảm nhiệm vai trò đồng đạo diễn.[54] Các nhà làm phim ban đầu mời Lee viết kịch bản, sau những gì cô đã làm cho Wreck-It Ralph. Tuy nhiên sau đó, cô đã tham gia rất tích cực trong quá trình phát triển tiền kỳ của phim, và đặc biệt có niềm đam mê lớn lao với dự án đến mức cô đã làm việc chặt chẽ và xuất sắc với đạo diễn Chris Buck cũng như hai nhà viết bài hát, Robert LopezKristen Anderson-Lopez. Có một điều dễ nhận thấy là cô đã mang tới rất nhiều sự sáng tạo cho bộ phim so với trước đó và, cũng vì các nhà sản xuất cần hai đạo diễn để kịp với lịch và thời hạn sản xuất phim họ có, họ đã mời cô làm đạo diễn, cùng với Buck.[28] Theo thông báo này, Jennifer Lee trở thành người phụ nữ đầu tiên làm đạo diễn cho một sản phẩm phim hoạt hình chiếu rạp dài do Walt Disney Animation Studios sản xuất.[35] Với hai đạo diễn cho một bộ phim hoạt hình, tiến trình diễn ra nhanh hơn rất nhiều: các đạo diễn, nhà sản xuất, người phát triển cốt truyện chính, và các nhà viết bài hát có thể làm việc cùng nhau để sắp xếp cốt truyện cho tới khi mọi thứ thật hoàn hảo và chính xác. Sau đó và khi cô tham gia nhóm sản xuất, Jennifer Lee sẽ chú trọng tới cốt truyện trong khi Chris Buck tập trung vào phần hoạt hình (Lee không có nhiều kinh nghiệm với phần hoạt hình kể cả sau khi đã tham gia phim Wreck-It Ralph). Sau này, họ lại quay lại cùng làm việc khi phim bước vào giai đoạn biên tập; mặc dù ý tưởng của hai đạo diễn này là họ có thể làm việc cùng nhau để chia sẻ ý tưởng của người này cho người kia khi cần thiết, nhưng họ cũng chia công việc ra, mỗi người phụ trách một phần riêng biệt của mình, và do đó vẫn trong một ngày như thế nhưng họ hoàn thành được nhiều việc hơn.[28]

Đến tháng 11 năm 2012, nhóm sản xuất tưởng như đã giải quyết được cốt truyện cho phim,[46]:155 nhưng theo lời Del Vecho, đến cuối tháng 2 năm 2013, cốt truyện vẫn còn nhiều điểm chưa hợp lý, buộc một số phân cảnh và ca khúc phải được viết lại trong khoảng thời gian từ tháng 2 đến tháng 6 năm 2013.[47][55][56] Ông giải thích, "chúng tôi đã viết lại các ca khúc, chúng tôi thay đổi các nhân vật và mọi thứ, rồi tự nhiên bộ phim đứng sững lại. Nhưng thời điểm ấy chúng tôi đã gần tới nơi rồi. Lúc nhìn lại nó chỉ như miếng bánh nhỏ, nhưng lúc làm khi quả thực là một sự vật lộn."[47] Nhớ lại thời kỳ làm việc với bộ phim, Anderson-Lopez đùa rằng cô và chồng còn nghĩ rằng nếu như sản phẩm cuối cùng "kéo đổ" sự nghiệp của họ thì họ sẽ biến thành "những anh hề trong bữa tiệc sinh nhật"[40]:19:07 và kể rằng "chúng tôi vẫn còn viết cho đến phút cuối cùng."[57] Đến tháng 6 (năm tháng trước ngày phát hành được ấn định), các nhà soạn nhạc đã giải quyết được cốt truyện bằng việc sáng tác ca khúc "For the First Time in Forever", mà theo lời của Lopez, "đã trở thành trục chính của cả bộ phim."[40]:19:24

Cũng tháng đó, Disney tổ chức các buổi chiếu thử của bộ phim đã hoàn thành một nửa với hai đối tượng khán giả (một là một gia đình và hai là một nhóm người lớn)[55]Phoenix, Arizona,[44] hôm đó Lasseter và Catmull cũng có mặt.[38][58] Lee nhớ lại rằng đó là lúc họ nhận ra họ "đã làm được điều gì đó, bởi phản hồi về bộ phim rất tích cực."[58] Catmull, người đã hướng dẫn Lee để "cô có được thành quả đó," đã nói với Lee rằng, "cô đã làm được".[38]

Hoạt hình[sửa | sửa mã nguồn]

Một ví dụ điển hình về phong cách hoạt hình của phim, Elsa giải phóng sức mạnh của mình trong phân cảnh bài hát "Let It Go."

Tương tự như Tangled, Frozen sử dụng một phong cách nghệ thuật đặc biệt có được nhờ kết hợp các ưu điểm của cả công nghệ tái tạo hình ảnh bằng máy tính (CGI) và hoạt hình vẽ tay truyền thống.[59] Ngay từ đầu, Buck đã nhận ra rằng Giaimo là ứng cử viên sáng giá nhất để phát triển phong cách ông đã mường tượng trong đầu—đó là lấy cảm hứng từ những bộ phim hoạt hình vẽ tay cổ điển của Disney từ những năm 1950, những Cuốn sách vàng nhỏ của Disney, và các thiết kế hiện đại giữa thế kỷ 20—và thuyết phục Giaimo trở lại Disney làm đạo diễn nghệ thuật cho phim Frozen.[46]:33 Buck, Lasseter và Giaimo là bạn cũ gặp nhau ở CalArts,[46]:33 và Giaimo trước đây từng làm đạo diễn nghệ thuật cho phim Pocahontas (1995) của Disney; trong bộ phim đó Buck giữ vai trò họa sĩ giám sát.[60]

Để tạo ra bối cảnh cho phim Frozen, Giaimo khởi động các khảo sát tiền kỳ bằng cách đọc kỹ các tài liệu về vùng Scandinavia và tới thăm thành phố lấy chủ đề đất nước Đan MạchSolvang gần Los Angeles, nhưng cuối cùng tập trung vào Na Uy bởi "80 phần trăm" cảnh trí lôi cuốn ông đến từ đất nước Na Uy.[61] Disney tài trợ kinh phí cho ba chuyến khảo sát thực địa.[62] Các họa sĩ hoạt hình và chuyên gia hiệu ứng hình ảnh được đưa tới Jackson Hole, Wyoming để trải nghiệm cảm giác đi bộ, chạy và ngã trên tuyết dày với nhiều loại trang phục khác nhau, trong đó có váy dài (cả nhân viên nam và nữ đều thử trang phục này);[28][61][62][63] còn nhóm họa sĩ ánh sáng và nghệ thuật tới thăm một Khách sạn băngQuebec, Canada để nghiên cứu cách ánh sáng phản chiếukhúc xạ trên băng và đá như thế nào. Cuối cùng, Giaimo và một số họa sĩ tới thăm Na Uy để lấy cảm hứng từ cảnh núi non, các vịnh hẹp, kiến trúc và văn hóa nơi đây.[62][64] "Chúng tôi chỉ có một khoảng thời gian rất ngắn cho bộ phim này, vì vậy trọng tâm chính của chúng tôi là xây dựng một cốt truyện hợp lí nhưng chúng tôi cũng biết rằng John Lasseter ưa thích tính chân thực trong từng chất liệu và muốn tạo nên một thế giới đáng tin, và phải nhắc lại rằng điều đó không có nghĩa đó phải là một thế giới thật giống thực – nhưng phải đáng tin cậy. Quan sát tầm nhìn và quy mô của Na Uy là rất quan trọng, và việc làm sao để các hoạ sĩ hoạt hình của chúng tôi nắm được mọi thứ trông như thế nào cũng rất quan trọng nữa," Del Vecho nhấn mạnh. "Ở đây, chúng tôi có một cảm giác rất chân thực như đến từ tầm nhìn và quy mô của phim Lawrence xứ Ả Rập," ông kết luận.

Trong năm 2012, khi Giaimo và các họa sĩ hoạt hình đang tiến hành những nghiên cứu khảo sát đầu tiên và phát triển phong cách tổng thể của bộ phim, thì nhóm sản xuất vẫn đang cố gắng hoàn thiện một kịch bản lôi cuốn, như đã nói ở trên. Phải đến tháng 11 năm 2012 vấn đề trên mới thực sự được giải quyết,[46]:155 và thậm chí sau đó kịch bản còn được sửa chữa nhiều hơn nữa.[47][55] Như vậy, thử thách "kinh khủng và duy nhất" mà nhóm hoạt họa phải đối mặt là thời gian làm việc gấp rút (ít hơn 12 tháng) để biến kịch bản vẫn đang tiếp tục được sửa chữa của Lee thành bộ phim hoàn chỉnh.[46]:155 Một số phim khác như Toy Story 2 của Pixar được sản xuất với thời hạn còn ngắn hơn, nhưng một thời hạn ngắn cũng đồng nghĩa với những "đêm phải thức khuya, làm việc ngoài giờ, và căng thẳng."[46]:155 Lee ước tính có khoảng 600 đến 650 người tham gia thực hiện Frozen, "trong đó có khoảng 70 họa sĩ ánh sáng, trên 70 họa sĩ hoạt hình," và từ 15 tháng 20 họa sĩ bàng truyện.[65]

Del Vecho giải thích cách tổ chức nhóm hoạt họa của phim: "Trong bộ phim này chúng tôi có những người "trưởng" phụ trách các nhân vật và các họa sĩ giám sát cho một số nhân vật cụ thể. Bản thân mỗi họa sĩ hoạt hình có thể tham gia thực hiện nhiều nhân vật nhưng luôn dưới sự chỉ đạo của một người phụ trách như thế. Tôi nghĩ cách làm này khác với Tangled, nhưng chúng tôi chọn nó bởi vì chúng tôi muốn có một người toàn tâm toàn ý hiểu được sâu sắc nhân vật của họ và sau đó giải thích cho những họa sĩ khác về nhân vật đó. Hyrum Osmond, họa sĩ hoạt hình phụ trách nhân vật Olaf, là một người ít nói nhưng có tính cách hài hước và hơi "điên" nên chúng tôi biết anh ấy sẽ mang tới nhiều yếu tố hài hước cho nhân vật của mình; họa sĩ hoạt hình phụ trách nhân vật Anna là Becky Bresee, đây là lần đầu tiên cô ấy phụ trách một nhân vật và chúng tôi giao Anna cho cô ấy."[28][35][66] Nhà huấn luyện diễn xuất Warner Loughlin được mời tới để giúp các họa sĩ hoạt hình hiểu được các nhân vật họ đang sáng tạo ra.[63] Để có cảm giác tổng thể cho từng cảnh, một số họa sĩ hoạt hình thậm chí còn tự mình diễn xuất. "Tôi thường quay lại mình đang diễn một phân cảnh nào đó trong phim, và với tôi việc làm đó rất có ích," theo lời họa sĩ giám sát hoạt hình Rebecca Wilson Bresee. Điều này giúp cô tìm ra các yếu tố có thể đưa vào để khiến cảnh phim chân thực hơn.[67] Họa sĩ giám sát nhân vật Elsa là Wayne Unten, ông đề nghị đảm nhận vai trò đó bởi ông bị lôi cuốn bởi sự phức tạp trong tính cách của nhân vật.[68] Unten rất cẩn thận trong việc phát triển các biểu cảm trên nét mặt của Elsa để làm nổi bật cảm giác sợ hãi của cô đối ngược với sự dũng cảm của Anna.[68] Ông cũng nghiên cứu các đoạn phim quay lại các buổi thu âm của Menzel để hoạt họa cách Elsa thở sao cho khớp với cách Menzel lấy hơi ngoài đời thực.[63]

Nói về phong cảnh và thiên nhiên trong các cảnh quay của bộ phim, đạo diễn nghệ thuật Michael Giaimo chịu ảnh hưởng lớn từ tác phẩm trong Black Narcissus của Jack Cardiff. Theo ông, nó đã mang đến một tính hiện thực cao độ cho phim: "Bởi đây là một bộ phim với quy mô như vậy và chúng tôi đã có những vịnh hẹp ở Na Uy để làm mẫu vẽ, nên tôi thực sự muốn khám phá chiều sâu. Từ góc nhìn của một nhà thiết kế, từ khi tôi chú trọng tới các chiều ngang và dọc, và với những gì các vịnh hẹp mang lại, mọi thứ thật hoàn hảo. Chúng tôi gói gọn câu chuyện về tình chị em trong một quy mô như vậy." Ngoài ra, tác phẩm của Ted D. McCord trong phim The Sound of Music cũng là một nguồn ảnh hưởng chính khác tới Giaimo: "Cách các nhân vật được xếp đặt bên phong cảnh và về khía cạnh điện ảnh, cách chúng thể hiện trong bộ phim này thật tuyệt vời". Ý tưởng sản xuất Frozen trong định dạng CinemaScope cũng chính là ý tưởng của Giaimo, và đã được Lasseter chấp thuận.[69] Giaimo cũng muốn đảm bảo rằng các vịnh hẹp, kiến trúc và phong cách nghệ thuật dân gian rosemaling của Na Uy phải đóng vai trò them chốt trong thiết kế bối cảnh của Arendelle. Là một người có nhiều kinh nghiệm trong hoạt hình, ông lưu ý rằng nghệ thuật thiết kế bối cảnh phải thể hiện sự thống nhất giữa nhân vật và môi trường xung quanh và do đó ban đầu ông muốn phối hợp các màu sắc bão hoà, vốn là một việc làm không được khuyến khích trong hoạt hình máy tính.[66] Một chú tuần lộc thật có tên là Sage đã được đưa đến xưởng phim để các hoạ sĩ hoạt hình nghiên cứu các chuyển động và tập tính của nó, phục vụ cho việc tái hiện nhân vật Sven.[70][71]

Một vấn đề nữa mà Giaimo muốn thực hiện đó là trang phục, bởi ngay từ đầu ông đã nhận ra rằng đây sẽ là một bộ phim nặng về phục trang.[46]:77 Để thực hiện được ý tưởng dó, ông mời nhà thiết kế nhân vật Jean Gillmore tới làm nhà thiết kế trang phục riêng cho bộ phim.[72] Trong khi hoạt hình truyền thống kết hợp luôn việc thiết kế trang phục và thiết kế nhân vật làm một và chỉ đơn thuần coi phục trang là một phần cố định của nhân vật, thì hoạt hình máy tính lại coi trang phục là một thực thể riêng biệt, có các tính chất và trạng thái riêng[72]—và Frozen yêu cầu mức độ chi tiết chưa từng có đến thời điểm đó, tới từng tiểu tiết như vải, khuy, trang trí và mũi thêu.[46]:76 Gillmore giải thích rằng "cách tiếp cận của bà là kết hợp dáng quần áo cổ điển của Tây Âu năm 1840 (give or take) với dáng quần áo và các chi tiết trang phục truyền thống của Na Uy thế kỷ 19."[72] Điều đó có nghĩa là họ sẽ chủ yếu sử dụng vải len với điểm nhấn ở chất liệu nhung, lanh và lụa.[46]:75 Trong quá trình sản xuất, Giaimo và Gillmore "phải chạy qua chạy lại" để mang tới cho các bộ phận sản xuất khác nhau các mẫu vải thật để họ tham khảo; về việc này họ có thể nhờ vậy tới bộ sưu tập mẫu vải nội bộ của chính hãng phim cũng như nguồn tài nguyên từ bộ phận phục trang của công viên Disney ParksFullerton, California.[72] Các "họa sĩ phát triển hình ảnh" của phim tạo ra các hình ảnh mô phỏng được tô màu kỹ thuật số của bề mặt vải, trong khi các bộ phận khác xử lý sự chuyển động, sức nặng, độ dày và ánh sáng của quá trình hoạt họa vải.[72]

Trong quá trình sản xuất, tựa đề tiếng Anh của phim được thay đổi từ The Snow Queen (Nữ chúa Tuyết) sang Frozen (Băng giá hay Nữ hoàng băng giá), một quyết định khiến công chúng so sánh với việc thay đổi tựa đề của phim Tangled. Peter Del Vecho giải thích rằng "tựa đề Frozen hoàn toàn độc lập với tên phim Tangled. Bởi vì, với chúng tôi, cái tên ấy thể hiện được nội dung của cả bộ phim. Frozen là một bộ phim nói về băng và tuyết nhưng cũng đồng thời phản ánh một mối quan hệ băng giá, một trái tim băng giá cần phải được sưởi ấm và làm tan chảy. Do đó chúng tôi không nghĩ đến việc so sánh giữa TangledFrozen." Ông cũng nói thêm rằng bộ phim vẫn giữ nguyên tên gọi ban đầu, Nữ Chúa Tuyết ở một số quốc gia: "bởi ở một số nước tiêu đề ấy gây được ấn tượng mạnh và hấp dẫn hơn. Có lẽ Nữ chúa tuyết chiếm một phần phong phú, dồi dào hơn trong di sản, truyền thống và văn hoá của nước ấy và họ chỉ muốn nhấn mạnh điều đó."[28] Và ông tiếp tục phát biểu, "Chúng tôi đang kể một câu chuyện gia đình và các mối quan hệ và bản thân điều đó đã rất phức tạp rồi. Sẽ có nhiều lần bạn hiểu về một điều gì đó không đúng với bản chất của chúng – Elsa phải trốn chạy vì cả cuộc đời nàng, vì con người thực sự của nàng, kể cả trốn khỏi em gái mình. Điều đó rõ ràng đã ảnh hưởng tới nàng và khiến nàng trở thành con người như thế, thành nhân vật như thế. May mắn thay, nếu bạn nhìn câu chuyện qua con mắt của Elsa thì bạn sẽ hiểu những gì nàng làm hoặc nếu bạn nhìn nó thông qua đôi mắt của Anna bạn sẽ hiểu được tại sao nàng lại làm những việc nàng đã làm đó, nhưng tất cả đều có những mối quan hệ rất phức tạp. Chúng tôi không nghĩ đó là một bộ phim Công chúa. Họ là những nàng công chúa nhưng chúng tôi không nghĩ theo cách đó, vì vậy tôi luôn thấy không thoải mái lắm khi mọi người nói về chuyện này. Nhưng tôi có thể nói rằng chúng tôi muốn các nhân vật của mình thật sự đáng tin và sẽ không đặt họ trên bất kỳ kệ đỡ nào. Phiên bản của chúng tôi phải cho người xem cảm nhận thật chân thực và có liên hệ tới những điều bạn có thể sẽ trải qua trong cuộc đời mình."[66]

Phát triển công nghệ[sửa | sửa mã nguồn]

Phân cảnh hoạt hình thử nghiệm minh họa các hiệu ứng băng tuyết sử dụng trong phim.

Hãng phim cũng phát triển một số công cụ mới để tái tạo hình ảnh chân thực và sống động, đặc biệt là cảnh tuyết dày và sự tác động qua lại giữa tuyết và các nhân vật. Disney muốn có một bộ công cụ hoàn thiện và có hệ thống để phát triển các hiệu ứng tuyết mà không cần chuyển đổi giữa các phương pháp khác nhau.[73] Như đã nói ở trên, một số họa sĩ và chuyên gia hiệu ứng hình ảnh của Disney đã tới Wyoming để trải nghiệm bước đi trong tuyết dày.[61] Tiến sĩ Kenneth Libbrecht, một giáo sư đến từ Viện Công nghệ California, được mời tới để hướng dẫn cho nhóm hiệu ứng cách băng và tuyết được hình thành, và tại sao mỗi bông tuyết đều là duy nhất và khác với tất cả những bông tuyết khác.[61] Với kiến thức này, nhóm hiệu ứng đã tạo ra một chương trình tái tạo bông tuyết có khả năng giúp họ tạo ngẫu nhiên 2000 hình dạng bông tuyết khác nhau để sử dụng trong bộ phim.[67]

Một thử thách khác mà hãng phim phải đối mặt là phải làm sao tái tạo được khung cảnh tuyết dày có khả năng tương tác một cách chân thực với các nhân vật và có độ "dính" sống động.[73] Theo kỹ sư phần mềm trưởng Andrew Selle, "[Tuyết] không thực sự là một chất lỏng. Mà nó cũng không hẳn là chất rắn. Nó có khả năng vỡ ra. Nó có thể ép thành những quả cầu tuyết. Tất cả những hiệu ứng này rất khó để hoạt họa một cách đồng thời."[61] Để đạt được điều này, các kỹ sư phần mềm đã sử dụng các kiến thức toán học cao cấp (phương pháp Material Point Method) và vật lý học, với sự giúp đỡ của các nhà nghiên cứu toán học đến từ Đại học California, Los Angeles[74][75] để phát triển một phần mềm mô phỏng tuyết có tên là Matterhorn. Công cụ này có khả năng mô phỏng tuyết một cách chân thực trong một môi trường ảo và được sử dụng trong ít nhất 43 phân cảnh của phim, trong đó có cả một số phân cảnh quan trọng.[35][73][74][76] Kỹ sư phần mềm Alexey Stomakhin gọi tuyết là "một nhân vật quan trọng của phim,"[74] do đó nó thu hút sự quan tâm của các nhà làm phim.[61] "Nếu bạn dùng tay đập tuyết ra, nó sẽ vỡ thành những mảng nhỏ. Bởi vì tuyết không có mối kết nối nào trong chúng, nên nó cũng không có mạng lưới, và có thể vỡ ra dễ dàng. Đây là một trong những đặc điểm quan trọng được chúng tôi khai thác," Selle nói. "Bạn thấy [Kristoff] bước qua tuyết và thấy vết chân của anh ta làm tuyết vỡ thành các mảnh nhỏ và bạn thấy khi [Anna] bị kéo ra khỏi tuyết, tuyết đang dính vào nhau bị vỡ ra. Mọi việc diễn ra một cách rất có hệ thống. Bạn không thấy tuyết riêng rẽ ngay từ đầu - bạn thấy nó giống như một thực thể thống nhất trước rồi sau đó mới vỡ ra."[73] Công cụ này cũng tỏ ra cực kỳ hữu dụng với các phân cảnh các nhân vật bước trong tuyết dày, bởi đó đảm bảo rằng tuyết phản ứng một cách tự nhiên trước mỗi bước đi của nhân vật.[61]

Các công cụ khác được thiết kế để hỗ trợ các họa sĩ thực hiện các hiệu ứng phức tạp bao gồm Spaces, cho phép các bộ phận trên người Olaf có thể di chuyển lung tung rồi ghép lại với nhau, Flourish, cho phép các hiệu ứng di chuyển phụ như lá cây và cành cây được điều khiển nghệ thuật; Snow Batcher, cho phép xem trước các cảnh có tuyết, nhất khi các nhân vật đang hoạt động trong một khu vực có tuyết hay bước trong tuyết, và Tonic, cho phép các họa sĩ thiết kế tóc của các nhân vật dưới dạng một khối có trình tự.[73] Tonic cũng hỗ trợ các họa sĩ trong việc hoạt họa các chi tiết lông vũ hay tóc ví dụ như tóc của Elsa, vốn là một tập hợp của 420.000 sợi tóc được hoạt họa bằng máy tính, so với con số trung bình 100.000 sợi trên đầu một người bình thường.[61] Số khung chuyển động cho các nhân vật trong phim Frozen là 312 và số bộ trang phục được mô phỏng cũng lên tới 245 bộ, nhiều hơn tất cả các bộ phim của Disney tính tới thời điểm đó.[13][67] Năm mươi họa sĩ hiệu ứng và họa sĩ ánh sáng cùng làm việc để phát triển công nghệ phục vụ việc tái tạo "một phân cảnh duy nhất" là cảnh Elsa xây lâu đài băng. Sự phức tạp của nó khiến các máy tính phải mất 30 giờ để kết xuất mỗi khung hình, và có tới 4.000 máy tính được sử dụng để kết xuất một khung hình cùng một lúc.[77][78]

Bên cạnh hiệu ứng 3D, các nhà làm phim cũng sử dụng các tranh vẽ 2D cho một số chi tiết và phân cảnh cụ thể trong phim, ví dụ như phép thuật của Elsa và bức tượng bằng băng, cũng như cảnh khu vịnh và sàn nhà đang đóng băng.[73][76] Nhóm hiệu ứng cũng tạo ra một "sân khấu quay phim", ở đó toàn bộ thế giới của Frozen xuất hiện trên các màn hình và được "quay" lại bằng các máy quay đặc biệt để tạo ra khung cảnh ba chiều. "Chúng tôi có thể sử dụng bối cảnh ảo này để bắt chước các hành động của mình và rồi đưa chúng vào bất kỳ cảnh phim nào chúng tôi muốn," nhà quản lý công nghệ Evan Goldberg nói.[67]

Cảm hứng từ khu vực Scandinavi và người Sámi[sửa | sửa mã nguồn]

Một số địa điểm nổi tiếng ở Na Uy cũng được đưa vào trong phim, bao gồm Akershus FortressOslo, Nidaros CathedralTrondheimBryggenBergen. Một số chi tiết là biểu tượng văn hoá đặc trưng của người Na Uy cũng xuất hiện trong phim, chẳng hạn như nhà thờ kiểu bậc thang,[79] quỷ lùn,[10]:6 thuyền của người Viking, ngựa Fjord,[80] quần áo[61] và thức ăn ví dụ như món lutefisk (làm từ cá khô ngâm giấm).[10]:43[81] Có một cây nêu ngày 1 tháng 5 xuất hiện trong bộ phim, và kiểu chữ runes truyền thống có thể được nhìn thấy trong cuốn sách mà nhà vua đọc để tìm nơi ở của thạch yêu.[10]:6 Cuộc tranh luận muôn thuở của người Na Uy về cách xếp củi sao cho đúng[82] cũng được nhắc tới trong phim.[10]:59 Bộ phim ngoài ra còn có một số chi tiết lấy cảm hứng từ văn hoá Sámi như việc sử dụng tuần lộc để đi lại và các dụng cụ để điều khiển tuần lộc, phong cách trang phục (trang phục của những người thợ phá băng) và một số đoạn nhạc nền.[83][84] Các chi tiết trang trí trên các cây cột của toà lâu đài và xe trượt của Kristoff cũng lấy cảm hứng từ cách trang trí duodji của người Sámi. Khi làm việc tại Na Uy, nhóm sản xuất của Disney, để lấy cảm hứng, đã tới thăm Rørosrein, một công ty do gia đình người Sámi sở hữu ở làng Plassje chuyên sản xuất thịt tuần lộc và sắp xếp các sự kiện cho khách du lịch.[85] Vương quốc Arendelle lấy cảm hứng từ Nærøyfjord, một nhánh của vịnh Sognefjorden, vịnh dài nhất Na Uy và là Di sản thế giới của UNESCO;[86] trong khi một toà lâu đài ở Oslo với các hoạ tiết vẽ tay rất đẹp trên cả bốn bức tường là nguồn cảm hứng cho nội thất bên trong lâu đài hoàng gia.[87]

Chuyến đi tới Na Uy đã mang lại những hiểu biết cần thiết cho các nhà làm phim để tìm ra thẩm mỹ thiết kế cho bộ phim từ màu sắc, ánh sáng và không khí. Theo Giaimo, có ba nhân tố chính họ đã thu thập được từ chuyến khảo sát ở Na Uy: các vịnh hẹp, vốn là những cấu trúc đá khổng lồ dựng đứng, và là nguồn cảm hứng cho vương quốc Arendelle hẻo lánh; các nhà thờ kiểu bậc thang, với những tấm mái và ván lợp hình tam giác thô kệch được dùng làm cảm hứng cho tổ hợp lâu đài; và nghệ thuật dân gian rosemaling, các ô vải màu đặc biệt và hoạ tiết ca-rô theo phong cách này là cảm hứng cho kiến trúc, trang trí và quần áo của các nhân vật trong phim.[66]

Nhạc phim[sửa | sửa mã nguồn]

Frozen (Original Motion Picture Soundtrack)
Album nhạc phim của Nhiều nghệ sĩ
Phát hành 25 tháng 11 năm 2013
Thể loại
Thời lượng 1:03:40
1:58:01 (bản Deluxe)
Hãng đĩa Walt Disney
Sản xuất
Thứ tự album của Walt Disney Animation Studios
Ralph đập phá
(2012)
Nữ hoàng băng giá
(2013)
Big Hero 6
(2014)

Các bài hát trong phim Frozen được viết và biên soạn bởi bộ đôi vợ chồng nhà sáng tác ca khúc Robert LopezKristen Anderson-Lopez, cả hai trước đây đều đã từng cộng tác với Walt Disney Animation Studios trong phim Winnie the Pooh (cũng do Del Vecho sản xuất, chính ông là người sau đó đã mời họ tham gia Frozen[55]) và trước đó là với Disney Parks trong vở nhạc kịch Finding Nemo-The Musical (2007).[14][88][89] Khoảng 23 phút phim được dành cho các bài hát.[90] Do vợ chồng nhạc sĩ sống ở thành phố New York, việc cộng tác chặt chẽ với nhóm sản xuất ở Burbank đòi hỏi họ phải hội nghị video hai tiếng gần như tất cả các ngày trong tuần trong suốt 14 tháng.[64][89][91][92] Với mỗi ca khúc viết được, họ lại thu một bản thu thử trong phòng thu tại gia của mình (có thể là cả hai hoặc một trong hai vợ chồng cùng hát và còn người chồng đệm đàn piano), rồi gửi email tới Burbank cho nhóm sản xuất nghe để nhận xét trong buổi hội nghị video tiếp theo.[93] Lopez và Anderson-Lopez hiểu rằng các ca khúc của họ sẽ bị đem ra so sánh với những tác phẩm kinh điển của Alan MenkenHoward Ashman từ Thời kỳ Phục hưng của Disney, và bất cứ khi nào bế tắc, họ lại tự hỏi "Nếu là Ashman thì ông sẽ làm gì?"[94] Cuối cùng, họ đã viết tổng cộng 25 ca khúc cho phim, 8 trong số đó được sử dụng trong bản phim chính thức.[94] Một ca khúc ("For the First Time In Forever") có một bản reprise và ca khúc "Let It Go" được Demi Lovato hát lại trong phần chạy chữ cuối phim, nên tổng cộng phim có 10 bài hát. 7 trong số 17 bài hát không sử dụng trong phim được phát hành trong album nhạc phim mở rộng (deluxe edition). Hai bài hát "Let It Go" và "In the Summer" của Lopez và Anderson-Lopez đã được biểu diễn thử tại D23 Expo (Triển lãm D23) năm 2013, trong đó ca khúc "Let It Go" do Idina Menzel thể hiện.[95]

Vào tháng 2 năm 2013, Christophe Beck được mời biên soạn phần nhạc nền cho bộ phim, sau tác phẩm được đánh giá rất cao của ông trong phim Paperman, một phim hoạt hình ngắn của Disney được phát hành trước năm của Frozen.[96] Cùng thời điểm đó, Kristen Bell cũng xác nhận rằng sẽ có một bản song ca giữa cô và Menzel.[17] Có một thông tin khác cũng đã được tiết lộ vào ngày 14 tháng 9 năm 2013 rằng bài hát của nhạc sĩ người Sámi Frode Fjellheim, Eatnemen Vuelie sẽ là ca khúc mở đầu của bộ phim, do nó có chứa nhiều chất liệu từ phong cách ca hát truyền thống Sámi joik[97][98] Các ca khúc của Lopez và Anderson-Lopez được chuyển soạn và phối lại cho dàn nhạc bởi Dave Metzger, ông cũng là người đảm nhiệm việc hoà phối phần lớn các bản nhạc nền của Beck.[99]

Về phần nhạc nền phim với dàn nhạc, nhà soạn nhạc Christophe Beck sử dụng cách dàn dựng lấy cảm hứng từ đất nước Na Uyvùng Sápmi, sử dụng các nhạc cụ địa phương như bukkehorn và các kỹ thuật hát truyền thống như kulning.[100] Các nhà sản xuất âm nhạc tuyển thêm một nhà ngôn ngữ học Na Uy tới để hỗ trợ viết lời cho một ca khúc Old Norse viết cho lễ đăng quang của Elsa, và cũng tới Na Uy để thu âm dàn đồng ca toàn bộ là nữ Cantus, để phục vụ cho một ca khúc lấy cảm hứng từ âm nhạc truyền thống của Na Uy.[100] Phần nhạc nền được thu âm với sự tham gia của dàn nhạc gồm tới 80 nhạc cụ, cùng với sự tham gia của 32 ca sĩ, trong đó có ca sĩ người gốc Na Uy Christine Hals.[100] Beck cộng tác cùng với Lopez và Anderson-Lopez nhằm hợp nhất và chuyển các bài hát của họ thành các bản phối trong nhạc nền của bộ phim. Mục tiêu của bộ ba này là "để tạo ra một cuộc hành trình âm nhạc liền mạch cho người xem từ đầu đến cuối".[100]

Dưới sự điều phối của kỹ sư âm thanh David Boucher, các diễn viên lồng tiếng chính bắt đầu thu âm các ca khúc của phim từ tháng 10 năm 2012 tại phong thu Sunset SoundHollywood trước khi chúng được dàn nhạc hòa phối và biểu diễn, điều đó có nghĩa là các diễn viên chỉ được nghe phần đệm piano của Lopez qua tai nghe khi hát.[101] Phần lớn các đoạn hội thoại của phim được thu âm tại Tòa nhà hoạt hình Roy E. Disney ở Burbank dưới sự hướng dẫn của nhân viên hòa âm hội thoại Gabriel Guy, người cũng đồng thời đảm nhiệm việc hòa âm hiệu ứng âm thanh của phim.[102] Một số đoạn hội thoại được thu âm sau khi thu âm các ca khúc ở cả phòng thu Sunset Sound và Capitol Studios; với các cảnh có Anna và Elsa, cả hai phòng thu này đều có những phòng khép kín để Menzel và Bell có thể nhìn thấy nhau khi thu âm mà vẫn tránh được hiện tượng "tràn âm" giữa các track âm thanh của họ.[102] Một số đoạn hội thoại khác được thu âm ở cơ sở ADR tại khu nhà của Walt Disney Studios ở Burbank (nằm bên kia đường so với tòa nhà Roy E. Disney) và tại phòng thu ở New York của Soundtrack Group,[102] bởi bộ phim có một số diễn viên sống tại New York như Fontana.[103]

Phát hành[sửa | sửa mã nguồn]

Nữ hoàng băng giá được phát hành tại các rạp chiếu phim trên toàn nước Mỹ vào ngày 27 tháng 11 năm 2013, đi kèm với một phim hoạt hình ngắn thuộc series Chuột Mickey, Get a Horse! [104] Bộ phim được quảng cáo rất nhiều tại một số công viên giải trí của Disney bao gồm khu World of ColorDisney California Adventure, khu lều rạp Na Uy tại Epcot, và show diễn Disney Dreams! tại Disneyland Paris.[105][106] Lần ra mắt công chúng đầu tiên của phim là tại rạp El CapitanHollywood, California vào ngày 19 tháng 11 năm 2013.[107]

Tại Việt Nam, bộ phim chính thức bắt đầu công chiếu từ ngày 13 tháng 12 năm 2013 với tên gọi Nữ hoàng băng giá dưới các định dạng 3D tiếng Anh với phụ đề tiếng Việt, 3D lồng tiếng Việt và 2D Digital lồng tiếng Việt cùng chuẩn âm thanh Dolby Atmos tại một số rạp chỉ định.[VN 1] Bản lồng tiếng Việt của phim có sự tham gia của Dương Hoàng Yến trong vai Elsa, Võ Hạ Trâm trong vai Anna và Thái Hoà trong vai Người tuyết Olaf. Viết Thanh (Trưởng nhóm nhạc Rock Unlimited) đảm nhiệm vai trò đạo diễn âm nhạc của bản tiếng Việt và cũng là người biên dịch các ca khúc gốc bằng tiếng Anh sang tiếng Việt.[VN 2][VN 3]

Phản hồi[sửa | sửa mã nguồn]

Doanh thu phòng vé[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến ngày 17 tháng 7 năm 2014, sau 34 tuần công chiếu tại Bắc Mỹ, Nữ hoàng băng giá đã thu về 400.738.009 USD tại khu vực này. Bộ phim cũng thu về 873.481.000 tại các quốc gia khác, tổng doanh thu toàn cầu của bộ phim là 1.274.219.009 USD[4] Đây là bộ phim có doanh thu cao nhất trong số những phim ra rạp năm 2013,[108] phim hoạt hình có doanh thu cao nhất năm 2013 và vừa qua ngày 30 tháng 3 năm 2014 đã chính thức vượt qua Toy Story 3 để trở thành phim hoạt hình có doanh thu cao nhất mọi thời đại, phim có doanh thu cao thứ 5 mọi thời đại, và là phim có doanh thu cao thứ nhất trong số các phim do Walt Disney Animation Studios sản xuất.[109] Lợi nhuận toàn thế giới trong dịp cuối tuần đầu tiên phát hành của phim là 110,6 triệu USD.[110]

Bắc Mỹ

Nữ hoàng băng giá trở thành bộ phim hoạt hình phát hành gốc được đặt trước vé nhiều nhất trong lịch sử của dịch vụ đặt vé xem phim Fandango, vượt qua bộ phim đang giữ kỷ lục này trước đó là Nàng công chúa tóc xù.[111] Phim khởi chiếu vào thứ sáu ngày 22 tháng 11 năm 2013 và có năm ngày phát hành hạn chế riêng tại rạp El Capitan ở Hollywood, thu về 342.839 USD trong thời gian này, trước khi phát hành rộng rãi vào thứ tư, ngày 27 tháng 11 năm 2013.[112] Trong ba ngày cuối tuần đầu tiên này phim thu về 243.390 USD, trở thành bộ phim có doanh thu trung bình mỗi rạp cao thứ bảy trong lịch sử.[113] Vào ngày phát hành rộng rãi đầu tiên, bộ phim thu về 15,2 triệu USD[114] (bao gồm 800.000 USD doanh thu chiếu sớm ngày thứ Ba trước đó)[115] và xác lập kỷ lục bộ phim có doanh thu ngày phát hành đầu tiên vào thứ Tư trước lễ Tạ ơn cao nhất từ trước tới nay, vượt trên Nàng công chúa tóc mây (11,9 triệu USD).[116] Nếu tính trong tất cả các phim (không chỉ các phim có ngày phát hành đầu tiên trùng đúng ngày thứ tư này) thì Nữ hoàng băng giá cũng là bộ phim có doanh thu trong ngày thứ Tư trước lễ Tạ ơn cao thứ hai trong lịch sử, sau Bắt lửa (20,8 triệu USD). Trong ba ngày cuối tuần truyền thống (từ thứ sáu đến chủ nhật) này, bộ phim giành vị trí thứ hai với doanh thu 67,4 triệu USD, lập kỷ lục mới về doanh thu dịp cuối tuần đầu tiên trong số các phim của Walt Disney Animation Studios.[117] Nếu xét trong số các phim không giành vị trí thứ nhất trong dịp cuối tuần phát hành đầu tiên, thì Nữ hoàng băng giá cũng là bộ phim có doanh thu dịp cuối tuần mở đầu cao thứ hai trong lịch sử (sau The Day After Tomorrow).[118][119] Trong số các phim phát hành dịp lễ Tạ ơn, phim cũng lập vài kỷ lục mới; doanh thu ba ngày (67,4 triệu USD từ thứ sáu đến chủ nhật)[120] và doanh thu năm ngày (93,6 triệu USD từ thứ tư đến chủ nhật).[121] Lần nữa, nếu không tính riêng các phim phát hành đúng vào dịp này, thì Nữ hoàng băng giá cũng là bộ phim có doanh thu ba ngày[122] và năm ngày[123] lễ Tạ ơn cao thứ hai trong tất cả các phim từ trước đến nay, vẫn sau Bắt lửa;[124] Trong dịp cuối tuần thứ hai phát hành rộng, Nữ hoàng băng giá giảm 53%, xuống còn 31,6 triệu USD, nhưng lần này lại vượt qua Bắt lửa lên đứng vị trí số một, lập kỷ lục mới cho bộ phim có doanh thu dịp cuối tuần sau lễ Tạ ơn cao nhất mọi thời đại, vượt trên Câu chuyện đồ chơi 2 (27,8 triệu USD).[125] Đây cũng là bộ phim có doanh thu dịp cuối tuần thứ năm phát hành cao thứ ba trong lịch sử với 28,6 triệu USD, sau Avatar (42,8 triệu USD) và Titanic (30 triệu USD).[126]

Ngoài Bắc Mỹ

Nữ hoàng băng giá cũng ra mắt cùng dịp cuối tuần so với thời điểm phát hành rộng ở Bắc Mỹ và thu về 16,7 triệu USD từ mười sáu thị trường nước ngoài khác.[119] Nói chung, doanh thu dịp cuối tuần đầu tiên của phim cao nhất là ở Nga và Cộng đồng các Quốc gia Độc lập (CIS) (11,1 triệu USD), tại đây phim xác lập kỷ lục mới về doanh thu dịp cuối tuần đầu tiên trong số các phim hoạt hình Disney (vượt qua Nàng công chúa tóc mây),[127] tiếp đó là Pháp và vùng Maghreb (9,16 triệu USD) và vương quốc Anh, Ireland và Malta (7,69 triệu USD).[128]

Phản hồi từ giới chuyên môn[sửa | sửa mã nguồn]

Nữ hoàng băng giá nhận được rất nhiều lời khen ngợi từ hầu như tất cả các nhà phê bình,[8] một số người còn so sánh bộ phim theo chiều hướng rất tích cực với các tác phẩm từ Thời kì Phục hưng của Disney, đặc biệt là Nàng tiên cá, Người đẹp và quái thú, và Vua sư tử.[21][129][130][131] Bộ phim được ca ngợi về phần hình ảnh, thông điệp, bài hát, và lồng tiếng, đặc biệt là phần thể hiện của Kristen Bell, Idina Menzel, và Josh Gad.[132] Một số lời khen ngợi đặc biệt được dành cho phân cảnh ca khúc "Let It Go", phân cảnh này cũng nhận được hầu hết đánh giá tích cực.[133] Trang tổng hợp kết quả đánh giá Rotten Tomatoes thống kê rằng có 89% các nhà phê bình cho bộ phim nhận xét tích cực từ 171 bài đánh giá, với điểm số trung bình là 7,8/10, đưa bộ phim trở thành phim gia đình được đánh giá cao nhất năm 2013. Lời nhận xét chung của trang này viết: "Hoạt hình đẹp, cốt truyện viết hay, và đầy những ca khúc hát tập thể, Nữ hoàng băng giá đã thêm một tác phẩm đáng giá vào tuyển tập của Disney."[134] Metacritic, trang chuyên cho đánh giá trung bình trên thang điểm 100 dựa trên các bài phê bình của những nhà bình luận chính thống, cho bộ phim 74 điểm dựa trên 43 bài phê bình, với nhận xét chung "chủ yếu là đánh giá tích cực."[135] CinemaScore cho Nữ hoàng băng giá điểm "A+" hiếm có trên thang đánh giá từ A+ đến F, dựa trên các cuộc thăm dò thực hiện vào dịp cuối tuần đầu tiên phát hành.[136][137] Nữ hoàng băng giá đứng thứ bảy trong số các phim hay nhất năm 2013 theo nhận xét của Richard Corliss của tạp chí Time[138]Kyle Smith của tờ The New York Post.[139]

Alonso Duralde của tờ The Wrap ca ngợi bộ phim là "phim hoạt hình nhạc kịch hay nhất của Disney sau sự ra đi của nhà viết lời bài hát Howard Ashman, mà các tác phẩm của ông trong Nàng tiên cáNgười đẹp và quái thú đã góp phần xây dựng bộ phận hoạt hình hiện đại của hãng được như ngày hôm nay." Ông cũng nói thêm rằng "tuy hơi chậm một chút trong phân đoạn đi đến kết thúc, nhưng kịch bản phim...thật sự đã truyền tải nhiều ý nghĩa; nó tạo cơ hội để các nhân vật trở nên đáng chú ý hơn, cùng với những nút thắt khéo léo và những bất ngờ suốt chiều dài tác phẩm."[21] Todd McCarthy của tờ The Hollywood Reporter coi Nữ hoàng băng giá là một bộ phim nhạc kịch thực sự và viết rằng "Bạn hầu như có thể thấy ngay rằng vở nhạc kịch Broadway Nữ hoàng băng giá chắc chắn sẽ xuất hiện khi xem câu chuyện công chúa trên hoạt hình 3D này." McCarthy miêu tả bộ phim là "mạnh mẽ, hài hước, không quá ngọt ngào, và cũng là bộ phim Hollywood đầu tiên trong nhiều năm cảnh báo chúng ta về sự lạnh đi thay vì ấm lên toàn cầu; giai điệu du dương ấy đã giải toả một năm có thể coi là mờ nhạt với một hãng phim hoạt hình lớn và, bắt đầu với doanh thu tuần đầu tiên dịp lễ Tạ ơn như vậy, bộ phim sẽ giành được doanh thu kỳ vọng mà hãng mong đợi sẽ là một bom tấn trong dịp lễ hội này."[140] Kyle Smith của tờ New York Post cho bộ phim 3,5 trên 4 sao và ca ngợi đây là "một tác phẩm lớn phủ tuyết sẽ làm hài lòng khán giả với cốt truyện hấp dẫn đầy cảm xúc, các ca khúc phong cách Broadway xuất sắc và nhiều tình tiết bất ngờ. Hai đoạn đầu và cuối phim có vẻ hay hơn phần giữa hài hước, nhưng đây là một trường hợp hiếm hoi cho thấy Walt Disney Animation Studios đang nỗ lực để đạt tới chiều sâu của một bộ phim Pixar."[141] Scott Mendelson của báo Forbes tỏ ra hăng hái; "Nữ hoàng băng giá vừa là một lời tuyên bố về sự cần thiết phải làm mới văn hoá của Disney vừa là lời tái khẳng định Disney đang tìm về với những di sản và nét đặc trưng vốn có của họ. Đây cũng đơn giản chỉ là một tác phẩm tuyệt vời cho giải trí gia đình."[142]

The Los Angeles Times ca ngợi nhóm lồng tiếng và các phân cảnh nhạc kịch tỉ mỉ, trau chuốt của bộ phim, khẳng định rằng Nữ hoàng băng giá là "sự trở lại thời kỳ hoàng kim đầy thú vị của Walt Disney Animation Studios."[129] Nhà báo Owen Gleiberman của tờ Entertainment Weekly cho bộ phim điểm "B+" và gọi đó là "một câu chuyện cổ tích vuông vắn tuyệt vời đã cho chúng ta thấy định nghĩa về sự tươi mới trong hoạt hình có thể thay đổi."[130] Richard Corliss của tạp chí Time cũng dành những lời tán dương cho bộ phim, "Thật tuyệt khi được thấy Disney đang trở lại với nguồn cội của họ và nảy nở trở lại: tạo ra những tác phẩm nhạc kịch giải trí chất lượng cao dựa trên truyền thống Walt đã gây dựng về sự huy hoàng của hoạt hình và nội lực mạnh mẽ của Broadway."[143] Richard Roeper ca ngợi bộ phim là một "niềm vui thích hoàn toàn từ đầu đến cuối."[144] Hai nhà phê bình Michael Phillips của báo Chicago TribuneStephen Holden của tờ The New York Times đều giành lời khen cho các nhân vật và các phân cảnh nhạc kịch trong phim và nói rằng chúng gợi cho người xem so sánh với nghệ thuật sân khấu trong vở nhạc kịch Wicked.[145][146] Emma Dibdin của báo Digital Spy cho bộ phim năm trên năm sao và gọi đó là "một tác phẩm cổ điển mới của Disney" và là "một câu chuyện thú vị, vui vẻ, đầy tình người; vừa hài hước khiến chúng ta cười nghiêng ngả mà cũng rất hồi hộp, táo bạo và cảm động." Khi chúng ta đang tiến rất gần tới dịp kỷ niệm lần thứ 90 ngày thành lập hãng, không thể có món quà nào hoàn hảo hơn là chính một tác phẩm thuộc thể loại mà Disney luôn là số một."[147]

Tuy nhiên, bộ phim cũng không tránh khỏi những phản hồi ít tích cực hơn. Scott Foundas của tạp chí Variety, không thực sự ấn tượng với bộ phim, tuy nhiên vẫn ca ngợi phần lồng tiếng và sự điêu luyện về chuyên môn trong nghệ thuật của phim: "Khung cảnh phủ tuyết như chạm thấy của vương quốc Arendelle, cả lâu đài băng nơi chạy trốn của Elsa là một điều kỳ diệu thực sự của Nữ hoàng băng giá, lại được nâng cao thêm bằng định dạng 3D và quyết định thực hiện với kích thước màn ảnh rộng – một cái gật đầu với sự phong phú, dồi dào của công nghệ CinemaScope trong Người đẹp ngủ trong rừngTiểu thư và chàng lang thang."[148] The Seattle Times cho bộ phim hai trên bốn sao, viết rằng "Mặc dù đây là một bộ phim lộng lẫy với những vịnh hẹp, các tác phẩm nghệ thuật làm từ băng và nội thất lâu đài thực hiện bằng máy tính, thì điều quan trọng kết nối những thứ ấy với nhau - cốt truyện - lại dường như hơi thiếu."[149] Joe Williams của St. Louis Post-Dispatch cũng cho rằng cốt truyện là một điểm yếu của phim.[150] Viết cho trang Roger Ebert, Christy Lemire cho bộ phim 2,5 trên bốn sao. Lemire ca ngợi phần hình ảnh của phim và phần thể hiện ca khúc "Let It Go," cũng như những thông điệp đẹp mà Nữ hoàng băng giá gửi gắm. Tuy nhiên, cô cho rằng bộ phim hơi hài hước quá mức và nói rằng phim giống như một "nỗ lực để thay đổi mọi thứ mà không thay đổi quá nhiều."[151]

Tái hiện cảm xúc của các nhân vật nữ[sửa | sửa mã nguồn]

Một số luận điệu thiếu căn cứ về vấn đề phân biệt đối xử theo giới đã nảy sinh[152][153][154] khi trưởng bộ phận hoạt hình của Nữ hoàng băng giá, ông Lino DiSalvo, nói:

"Về mặt lịch sử mà nói, để hoạt hình các nhân vật nữ thực sự, thực sự rất khó, bởi họ phải trải qua nhiều cung bậc cảm xúc, nhưng bạn phải luôn giữ cho họ trông thật xinh đẹp và họ cũng rất nhạy cảm nữa — bạn cũng có thể làm mất hình ảnh họ rất nhanh. Vậy nên, sản xuất một bộ phim với hai nhân vật nữ chính thật sự là một thử thách, và để họ xuất hiện trong cùng một cảnh quay thì vẫn phải làm thế nào để họ trông thật khác nhau nếu họ đang cùng thể hiện một trạng thái cảm xúc; và Elsa khi đang tức giận trông phải khác với Anna đang tức giận."

Một số nhà bình luận truyền thông nhìn nhận ý kiến này có nghĩa là khó khăn nảy sinh bởi họ chỉ có thể thay đổi nét mặt một cách hạn chế với các nhân vật hoạt hình nữ gần đây của Disney bởi các hoạ sĩ cần phải giữ cho họ trông "xinh đẹp."[152][153][154] Tuy nhiên, một người phát ngôn của Disney trả lời tạp chí Time rằng lời phát biểu của DiSalvo đã bị hiểu nhầm, ông chỉ đang "giải thích một số khía cạnh kỹ thuật của hoạt hình máy tính (CG) và đó không phải một lời bình luận chung về việc hoạt hình các nhân vật nữ so với các nhân vật nam hay những nhân vật khác."[152][154]

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Giải thưởng
Giải thưởng Ngày trao giải Hạng mục Người nhận và người được đề cử Kết quả
Hiệp hội các nhà phê bình phim người Mỹ gốc Phi[155] 13 tháng 12 năm 2013 Phim hoạt hình hay nhất Đoạt giải
Liên minh các nữ nhà báo hoạt động về điện ảnh[156] 19 tháng 12 năm 2013 Chris Buck, Jennifer Lee Đề cử
Nữ đạo diễn xuất sắc nhất Jennifer Lee
Nhà viết kịch bản nữ xuất sắc nhất
Nhân vật hoạt hình nữ xuất sắc nhất Anna (Kristen Bell) Đoạt giải
Elsa (Idina Menzel) Đề cử
Giải Annie[157] 1 tháng 2 năm 2014 Phim hoạt hình hay nhất Chưa quyết định
Hoạt hình nhân vật trong một tác phẩm phim hoạt hình chiếu rạp Tony Smeed
Thiết kế nhân vật trong một tác phẩm phim hoạt hình chiếu rạp Bill Schwab
Đạo diễn phim hoạt hình chiếu rạp Chris Buck, Jennifer Lee
Nhạc phim trong tác phẩm phim hoạt hình chiếu rạp Robert Lopez, Kristen Anderson-Lopez, Christophe Beck
Thiết kế sản xuất trong tác phẩm phim hoạt hình chiếu rạp Michael Giaimo, Lisa Keene, David Womersley
Thiết kế storyboard trong tác phẩm phim hoạt hình chiếu rạp John Ripa
Diễn viên lồng tiếng trong tác phẩm phim hoạt hình chiếu rạp Josh Gad
Kịch bản phim hoạt hình chiếu rạp Jennifer Lee
Dựng phim trong phim hoạt hình chiếu rạp Jeff Draheim
Hiệp hội các nhà phê bình phim Austin[158] 17 tháng 12 năm 2013 Phim hoạt hình hay nhất Đoạt giải
Hiệp hội các nhà phê bình phim trực tuyến Boston[159] 7 tháng 12 năm 2013 Đoạt giải:
Đồng giải với The Wind Rises
Cộng đồng các nhà phê bình phim Boston 8 tháng 12 năm 2013 Phim hoạt hình hay nhất Runner-up
Hiệp hội phê bình phim phát sóng[160] 16 tháng 1 năm 2014 Phim hoạt hình hay nhất Chưa quyết định
Ca khúc trong phim hay nhất "Let It Go"
Thể hiện bởi Idina Menzel
Âm nhạc của Robert Lopez, Lời của Kristen Anderson-Lopez
Hiệp hội các nhà phê bình phim Chicago[161] 16 tháng 12 năm 2013 Phim hoạt hình hay nhất Đề cử
Hiệp hội các nhà phê bình phim Dallas-Fort Worth[162] Đoạt giải
Liên hoan phim quốc tế Dubai[163] 13 tháng 12 năm 2013 Giải sự lựa chọn của người xem Emirates NBD Chris Buck, Jennifer Lee
Giới các nhà phê bình phim Florida[164] 18 tháng 12 năm 2013 Phim hoạt hình hay nhất
Giải Quả cầu vàng[165] 12 tháng 1 năm 2014 Phim hoạt hình hay nhất Chưa quyết định
Ca khúc trong phim hay nhất - Phim chiếu rạp "Let It Go"
Robert LopezKristen Anderson-Lopez
Cộng đồng các nhà phê bình phim Houston[166] 15 tháng 12 năm 2013 Phim hoạt hình hay nhất Đoạt giải
Ca khúc trong phim hay nhất "Let It Go"
Robert LopezKristen Anderson-Lopez
Đề cử
Giải những sản phẩm xuất sắc nhất năm 2013 của IGN[167] 10 tháng 1 năm 2014 Phim hay nhất Chưa quyết định
Phim hoạt hình hay nhất
Hiệp hội các nhà phê bình phim Indiana[168] 19 tháng 12 năm 2013 Phim hoạt hình hay nhất Đoạt giải
Giới các nhà phê bình phim thành phố Kansas[169] 15 tháng 12 năm 2013 Phim hoạt hình hay nhất Đoạt giải:
Đồng giải với Despicable Me 2
Cộng đồng các nhà phê bình phim Las Vegas[170] 18 tháng 12 năm 2013 Phim hoạt hình hay nhất Đoạt giải
Cộng đồng các nhà phê bình phim Nevada[171] 20 tháng 12 năm 2013 Phim hoạt hình hay nhất
Hội phê bình phim New York 3 tháng 12 năm 2013 Runner-up
Hội phê bình phim trực tuyến 16 tháng 12 năm 2013 Đề cử
Cộng đồng các nhà phê bình phim Phoenix[172] December 17, 2013 Phim hoạt hình hay nhất Đoạt giải
Ca khúc trong phim hay nhất "Let It Go"
Robert LopezKristen Anderson-Lopez
Nhạc phim hay nhất Christophe Beck
Giải thưởng của Hội các nhà sản xuất Hoa Kỳ[173] 19 tháng 1 năm 2014 Nhà sản xuất xuất sắc của phim hoạt hình chiếu rạp Peter Del Vecho Chưa quyết định
Cộng đồng các nhà phê bình phim San Diego[174] 11 tháng 12 năm 2013 Phim hoạt hình hay nhất Đề cử
Giới các nhà phê bình phim San Francisco[175] 15 tháng 12 năm 2013 Đoạt giải
Giải Satellite[176] 23 tháng 2 năm 2014 Phim, phim hoạt hình hoặc sản phẩm truyền thông hỗn hợp xuất sắc nhất Chưa quyết định
Ca khúc trong phim hay nhất "Let It Go"
Robert LopezKristen Anderson-Lopez
Hiệp hội các nhà phê bình phim miền Đông Nam[177] 16 tháng 12 năm 2013 Phim hoạt hình hay nhất Đoạt giải
Hiệp hội các nhà phê bình phim St. Louis Gateway[178] 16 tháng 12 năm 2013 Phim hoạt hình hay nhất
Nhạc phim hay nhất Đề cử
Hiệp hội phê bình phim Toronto[179][180] 17 tháng 12 năm 2013 Phim hoạt hình hay nhất
Hiệp hội các nhà phê bình phim Utah[181] 20 tháng 12 năm 2013 Đoạt giải
Hiệp hội các nhà phê bình phim khu vực Washington D.C.[182] 9 tháng 12 năm 2013 Phim hoạt hình hay nhất
Nhạc phim hay nhất Christophe Beck Đề cử
Giới các nhà nữ phê bình phim[183] 16 tháng 12 năm 2013 Các nữ nhân vật hoạt hình xuất sắc nhất Đoạt giải

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Frozen (2013) - IMDb”. IMDb. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2014. 
  2. ^ “Frozen”. Ontario Film Review Board. 12 tháng 11 năm 2013. Truy cập 15 tháng 1 năm 2014. 
  3. ^ Smith, Grady (27 tháng 11 năm 2013). “Box office preview: 'Frozen' ready to storm the chart, but it won't beat 'Catching Fire'”. Entertainment Weekly. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2013. 
  4. ^ a ă â “Frozen (2013)”. Box Office Mojo. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2014. 
  5. ^ “Disneyland Resort Debuts 'World of Color -- Winter Dreams,' a Merry New Spectacular for 2013 Holiday Season”. PR Newswire. 27 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2013. ‘from the upcoming Walt Disney Pictures animated feature "Frozen,"’ 
  6. ^ Liu, Meng (19 tháng 11 năm 2013). “Disney's 'Frozen' Premiere Turns L.A. Into a Winter Wonderland”. The Hollywood Reporter. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2013. 
  7. ^ Barnes, Brooks (1 tháng 12 năm 2013). “Boys Don’t Run Away From These Princesses”. The New York Times. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2013. 
  8. ^ a ă Zuckerman, Esther (4 tháng 11 năm 2013). “Is 'Frozen' a New, Bona Fide Disney Classic?”. The Atlantic Wire. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2013. 
  9. ^ “Golden Globes 2014: And the winners are...”. USA Today. 12 tháng 1 năm 2014. Truy cập 16 tháng 1 năm 2014. 
  10. ^ a ă â b c d đ e ê g Lee, Jennifer (23 tháng 9 năm 2013). Frozen's Final Shooting Draft”. Walt Disney Animation Studios. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2014. 
  11. ^ a ă â Nachman, Brett (16 tháng 8 năm 2012). “Disney In Depth: The Future Of Disney Animation (Frozen, Paperman, & Wreck-It Ralph) – A Recap Of D23's Destination D Event”. Geeks of Doom. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2012. 
  12. ^ Paula Toti (December 10, 2013). "Local Girl stars in Disney's 'Frozen'". WKRC-TV. Local12.com. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2013.
  13. ^ a ă Wloszczyna, Susan (26 tháng 11 năm 2013). “With Frozen, Director Jennifer Lee Breaks the Ice for Women Directors”. Indiewire. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2014. 
  14. ^ a ă â Breznican, Anthony (11 tháng 6 năm 2012). “Disney's 'Frozen': Kristen Bell and Idina Menzel to voice animated tale”. Entertainment Weekly. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2013. 
  15. ^ Covert, Colin (29 tháng 11 năm 2013). “Disney's animated "Frozen" is pretty chill”. The Gazette. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2014. 
  16. ^ a ă “Frozen(2013) – Cast & Crew”. Yahoo! Inc. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2014. 
  17. ^ a ă â Alexander, Bryan (17 tháng 6 năm 2013). “'Frozen' defrosts Kristen Bell's Disney dreams”. USA Today. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2013. 
  18. ^ a ă “Jonathan Groff joins Disney's Frozen Voice Cast”. ComingSoon.net. 19 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2012. 
  19. ^ Sarto, Dan (21 tháng 2 năm 2013). “Oscar® Tour SoCal Day 2 Continues at Disney Feature Animation”. Animation World Network. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2013. 
  20. ^ a ă â Snetiker, Marc (18 tháng 6 năm 2013). “Santino Fontana and Josh Gad Join Disney's Frozen, Starring Jonathan Groff & Idina Menzel”. Broadway.com. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2013. 
  21. ^ a ă â Duralde, Alonso (3 tháng 11 năm 2013). “'Frozen' Review: Disney's Best Animated Musical Since 'Beauty and the Beast'”. The Wrap. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2013. 
  22. ^ “'Frozen' Movie Stills - Oaken (voiced by Chris Williams)”. Yahoo!. 11 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2013. 
  23. ^ a ă “Frozen”. British Film Institute. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2013. 
  24. ^ Showbiz, Bang (15 tháng 11 năm 2013). “Jack Whitehall voices troll in Disney's 'Frozen'”. Contactmusic. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2013. 
  25. ^ “How Well Do You Know... Frozen?”. Disney Insider. 29 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2014. 
  26. ^ a ă â Fischer, Russ (11 tháng 1 năm 2012). “Disney's "Frozen", Formerly "The Snow Queen", Will Be CG Rather Than Hand-Drawn”. Slash Film. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2012. 
  27. ^ a ă Jim Hill (18 tháng 10 năm 2013). “Countdown to Disney "Frozen": How one simple suggestion broke the ice on the "Snow Queen"'s decades-long story problems”. Los Angeles Times. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2013. 
  28. ^ a ă â b c d Connelly, Brendon (25 tháng 9 năm 2013). “Inside The Research, Design, And Animation Of Walt Disney's Frozen With Producer Peter Del Vecho”. Bleeding Cool. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2013. 
  29. ^ Giardina, Carolyn (27 tháng 11 năm 2013). “Oscars: With 'Frozen,' Disney Invents a New Princess (and Secret Software)”. The Hollywood Reporter. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2013. 
  30. ^ Weintraub, Steve (25 tháng 11 năm 2013). “Josh Gad Talks FROZEN, His History with the Project, the Songs, the Status of TRIPLETS, Playing Sam Kinison, and More”. Collider.comn Sự kiện xảy ra vào lúc 0:33. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2013. 
  31. ^ Dawn C. Chmielewski and Claudia Eller (9 tháng 3 năm 2010). “Disney restyles 'Rapunzel' to appeal to boys”. Los Angeles Times. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2010. 
  32. ^ de Semlyen, Nick (22 tháng 6 năm 2010). “Exclusive: The Lion King To Go 3D”. Empire Online. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2013. ‘"Thực ra hiện tại dự án đang bị tạm hoãn lại," Hahn giải thích. "Nó như thể ở trên một cái giá rất thấp - mà chúng tôi vẫn không thể với tới được! Nhưng nghiêm túc mà nói, chúng tôi không có cốt truyện. Nó cũng giống như kiểu Người đẹp và quái thú vậy, cứ ngồi đấy chờ mất vài năm. Cuối cùng chúng tôi giải quyết vấn đề với Người đẹp và quái thú bằng cách đưa thêm đối tượng và xây dựng thêm cốt truyện. Còn Nữ chúa tuyết, chúng tôi có nhiều vấn đề và tôi đã giành vài năm cho nó. Tôi yêu nó và tôi cho rằng nó là một trong những câu chuyện cổ tích xuất sắc cuối cùng. Nó khá dở và giờ nó cứ chỉ ngồi đấy thôi.’ 
  33. ^ Sciretta, Peter (22 tháng 12 năm 2011). “Walt Disney Animation Gives 'The Snow Queen' New Life, Retitled 'Frozen' – But Will It Be Hand Drawn?”. SlashFilm. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2011. 
  34. ^ a ă Todd Gilchrist (5 tháng 3, 2012). “Kristen Bell Set to Star in Stage Adaptation 'Some Girls', Animated Feature 'Frozen' (Exclusive)”. The Hollywood Reporter. Truy cập 5 tháng 3, 2012. 
  35. ^ a ă â b c d Lowman, Rob (19 tháng 11 năm 2013). “Unfreezing ‘Frozen:’ The making of the newest fairy tale in 3D by Disney”. Los Angeles Daily News. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2013. 
  36. ^ a ă â b c Laporte, Nicole (28 tháng 2 năm 2014). “How "Frozen" Director Jennifer Lee Reinvented The Story Of The Snow Queen”. Fast Company. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2014. 
  37. ^ Stewart, Jill (15 tháng 5 năm 2013). “Jennifer Lee: Disney's New Animation Queen”. LA Weekly. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2014. 
  38. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ August, John; Aline Brosh McKenna (1 tháng 2 năm 2014). “Episode 128: Frozen with Jennifer Lee — Transcript”. Scriptnotes. johnaugust.com. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2014. 
  39. ^ Sarto, Dan (7 tháng 11 năm 2013). “Directors Chris Buck and Jennifer Lee Talk 'Frozen'”. Animation World Network (AWN, Inc.). Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2014. 
  40. ^ a ă â b c d Williams College (30 tháng 6 năm 2014). “Exploring the Songs of "Frozen" with Kristen Anderson-Lopez '94”. YouTube. Williams College. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2014. 
  41. ^ Brew, Simon (12 tháng 12 năm 2013). “A spoiler-y, slightly nerdy interview about Disney's Frozen”. Den of Geek!. Dennis Publishing. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2014. 
  42. ^ Everett, Lucinda (31 tháng 3 năm 2014). “Frozen: inside Disney's billion-dollar social media hit”. The Daily Telegraph (London). Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2014. 
  43. ^ a ă â b c Achilles, Jordan (17 tháng 3 năm 2014). “Michael, Peter, Chris and Jennifer Talk Frozen and It's Success”. Kidzworld. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2014. 
  44. ^ a ă Flynn, Sean (17 tháng 2 năm 2014). “Is it her time to shine?”. The Newport Daily News. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2014. 
  45. ^ Lee, Jennifer (1 tháng 3 năm 2014). “Oscars 2014: 'Frozen's' Jennifer Lee on being a female director”. Los Angeles Times. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2014. 
  46. ^ a ă â b c d đ e ê g Solomon, Charles (2013). The Art of Frozen. San Francisco: Chronicle Books. ISBN 978-1-4521-1716-4. 
  47. ^ a ă â b Hunsaker, Andy (18 tháng 3 năm 2014). “The Real-Life Ice Hotel That Inspired Disney's ‘Frozen’”. CraveOnline. CraveOnline Media. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2014. 
  48. ^ Alexander, Bryan (17 tháng 6 năm 2013). “'Frozen' defrosts Kristen Bell's Disney dreams”. USA Today. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2013. 
  49. ^ a ă Chance, Molly (14 tháng 8 năm 2013). “Kristen Bell: 'Frozen' character is awkward,' 'Veronica Mars' footage 'looks radical'”. Zap2It. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2013. 
  50. ^ “Low-key bride Kristen Bell”. Belfast Telegraph. 31 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2013. 
  51. ^ Wilkinson, Amy (28 tháng 8 năm 2013). “Kristen Bell: 'Frozen' Is 'The Kind Of Movie I Wanted To See As A Kid”. MTV News. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2013. 
  52. ^ a ă â World Entertainment News Network (1 tháng 11 năm 2013). “Tangled – Secret Phone Recording Helped Idina Menzel Land New Disney Role”. ContactMusic.com. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2014. 
  53. ^ Vaux, Rob (26 tháng 11 năm 2013). “Mania Interview: Idina Menzel”. Mania.com. Demand Media. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2014. 
  54. ^ Fleming, Mike (29 tháng 11 năm 2012). “Jennifer Lee to co-direct Disney Animated Film ‘Frozen’”. Deadline. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2012. 
  55. ^ a ă â b Laskowski, Amy (28 tháng 2 năm 2014). “Frozen Producer Heads to the Oscars”. BU Today. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2014. 
  56. ^ Keegan, Rebecca (9 tháng 5 năm 2013). “Disney is reanimated with 'Frozen,' 'Big Hero 6'”. Los Angeles Times. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2014. 
  57. ^ Watkins, Gwynne (15 tháng 1 năm 2014). “Frozen Composers Assess 6 Fan-Created Homages to Their Songs”. Vulture.com. New York Media LLC. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2014. 
  58. ^ a ă Miller, Lindsay (28 tháng 2 năm 2014). “On the Job With Jennifer Lee, Director of Frozen”. Popsugar. Popsugar Inc. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2014. 
  59. ^ Schaefer, Sandy (29 tháng 11 năm 2013). “"Frozen" Review”. ScreenRant. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2014. 
  60. ^ Grant, John (1998). Encyclopedia of Walt Disney's Animated Characters (ấn bản 3). Hyperion Books. tr. 400. ISBN 9780786863365. 
  61. ^ a ă â b c d đ e ê Emanuel Levy, "Frozen: Setting and Visual Look", Emanuel Levy Cinema 24/7, December 26, 2013.
  62. ^ a ă â “The story behind the story of Frozen”. Disney Insider. The Walt Disney Company. 30 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2013. 
  63. ^ a ă â Burbank, Kyle (24 tháng 2 năm 2014). “Oscar Week: Frozen’s Art of Animation”. LaughingPlace.com. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2014. 
  64. ^ a ă Hogg, Trevor (26 tháng 3 năm 2014). “Snowed Under: Chris Buck talks about Frozen”. Flickering Myth. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2014. 
  65. ^ Cousineau, Michael (29 tháng 3 năm 2014). “UNH degree played a part in Oscar-winning movie”. New Hampshire Union Leader. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2014. 
  66. ^ a ă â b Desowitz, Bill (7 tháng 10 năm 2013). “Immersed in Movies: First Look: Designing the Winter Wonderland of "Frozen"”. Animation Scoop. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2013. 
  67. ^ a ă â b Pockross, Adam (8 tháng 10 năm 2013). “21 "Frozen" Facts That Make Us Ready for Winter”. Yahoo! Movies. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2014. 
  68. ^ a ă Marcos, Angie (26 tháng 3 năm 2014). “Animators bask in glow of 'Frozen's' box-office and Oscar success”. The Orange County Register. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2014. 
  69. ^ Desowitz, Bill (7 tháng 10 năm 2013). “Immersed in Movies: First Look: Designing the Winter Wonderland of 'Frozen'”. Animation Scoop. Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2013. 
  70. ^ Sarto, Dan (11 tháng 10 năm 2013). “The Animation of Disney's 'Frozen': Striving to Capture the Performance”. Animation World Network. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2014. 
  71. ^ Bailey, Caryn (27 tháng 11 năm 2013). “7 Things You Didn't Know About 'Frozen'”. Fandango. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2014. 
  72. ^ a ă â b c Kucharski, Joe (7 tháng 1 năm 2014). “Costume Design in Animation – Disney's Frozen”. Tyranny of Style. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2014. 
  73. ^ a ă â b c d Failes, Ian (2 tháng 12 năm 2013). “The tech of Disney's Frozen and Get a Horse!”. FX Guide. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2014. 
  74. ^ a ă â Marquez, Letisia (27 tháng 2 năm 2014). “UCLA's mathematicians bring snow to life for Disney's "Frozen"”. UCLA Today. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2014. 
  75. ^ Alexey Stomakhin, Craig Schroeder, Lawrence Chai, Joseph Teran, Andrew Selle (tháng 8 năm 2013). “A material point method for snow simulation”. Walt Disney Animation Studios. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2014. 
  76. ^ a ă Jason (21 tháng 11 năm 2013). “Making of Disney's Frozen: A Material Point Method For Snow Simulation”. CG Meetup. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2014. 
  77. ^ Zahed, Ramin (27 tháng 11 năm 2013). “Disney's "Frozen" to Warm Hearts This Week”. Animation Magazine. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2014. 
  78. ^ Hill, Jim (9 tháng 10 năm 2013). “Countdown to Disney "Frozen" : The flaky design idea behind the look of Elsa's ice palace”. Jim Hill Media. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2014. 
  79. ^ Daws, Josh (4 tháng 11 năm 2013). “6 surprises I learned about "Frozen" fresh from filmmakers at Walt Disney Animation Studios preview event”. Inside the Magic. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2014. 
  80. ^ Albrough, Lori (10 tháng 11 năm 2013). “Disney's Frozen Movie and Sitron the Fjord Horse”. Bluebird Lane. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2014. 
  81. ^ Mullins, Casey (27 tháng 11 năm 2013). “Female Directors are Changing the Story in Disney Animation”. Babble. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2014. 
  82. ^ Lyall, Sarah (19 tháng 2 năm 2013). “Bark Up or Down? Firewood Splits Norwegians”. New York Times. tr. A4. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2014. 
  83. ^ Sandmo, Espen (6 tháng 9 năm 2013). “Nidarosdomen i ny Disney-film”. NRK (bằng Norwegian). Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2013. 
  84. ^ Lindgaard Stranden, Ingrid (8 tháng 12 năm 2013). “Vi ligner mest med lua på”. NRK (bằng Norwegian). Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2013. 
  85. ^ Furuly, Jan Gunnar (22 tháng 11 năm 2013). “Se, en samisk Disney-helt!”. Aftenposten (bằng Norwegian). Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2014. 
  86. ^ March, Catherine Dawson (26 tháng 11 năm 2013). “Disney's Frozen: Inspired by Norway's beauty”. The Globe and Mail (Toronto). Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2014. 
  87. ^ “Evil Elsa, shy Kristoff? 10 "Frozen" facts you probably didn't know”. Rappler. 7 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2014. 
  88. ^ Keegan, Rebecca (1 tháng 11 năm 2013). “Husband-wife songwriting team's emotions flow in 'Frozen'”. The Los Angeles Times. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2013. 
  89. ^ a ă Truax, Jackson (27 tháng 11 năm 2013). “Frozen composers Robert Lopez and Kristen Anderson-Lopez”. Awards Daily. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2014. 
  90. ^ Adams, Sam (17 tháng 2 năm 2014). “The Scrambled Sexuality of 'Frozen's "Let It Go"”. Indiewire Blogs. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2014. 
  91. ^ Ziemba, Christine (3 tháng 3 năm 2014). “Disney's Frozen Wins Academy Award for Animated Feature”. 24700: News from California Institute of the Arts (California Institute of the Arts). Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2014. 
  92. ^ Kit, Zorianna (26 tháng 11 năm 2013). “Awards Spotlight: 'Frozen' Director Chris Buck on Crafting Well-Rounded Female Characters”. Studio System News. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2014. 
  93. ^ Kit, Zorianna (27 tháng 11 năm 2013). “Awards Spotlight: Robert Lopez & Kristen Anderson-Lopez Make Beautiful Music Together for Disney’s ‘Frozen’”. Studio System News. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2014. 
  94. ^ a ă Burlingame, Jon (6 tháng 11 năm 2013). “'Frozen' Aims for Watermark notched by 'Mermaid,' 'Beauty & Beast'”. Variety. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2014. 
  95. ^ Graser, Marc (9 tháng 8 năm 2013). “D23 Expo: Disney Fanfest Starts Off Strong with Animation Lineup”. Variety. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2013. 
  96. ^ “Christophe Beck to Score Disney's 'Frozen'”. Film Music Reporter. 
  97. ^ Jardine, William (15 tháng 9 năm 2013). “Frozen Stuff: Opening Song and Oh So Many Olaf Posters”. A113Animation. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2013. 
  98. ^ Hoel, Ole Jacob (14 tháng 9 năm 2013). “Trøndersk joik åpner Disney-film”. Adressa.no (bằng Tiếng Na Uy). Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2013. 
  99. ^ Truax, Jackson (27 tháng 11 năm 2013). “Frozen composers Robert Lopez and Kristen Anderson-Lopez”. Awards Daily. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2014. 
  100. ^ a ă â b “Walt Disney Animation Studios' "Frozen" Lets Go With Dynamic Soundtrack”. The Wall Street Journal. 22 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2013. 
  101. ^ Tingen, Paul (tháng 4 năm 2014). “Inside Track: Disney's Frozen”. Sound on Sound. SOS Publications Group. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2014. 
  102. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Tucker
  103. ^ Gordon, David (27 tháng 11 năm 2013). “Cinderella Star Santino Fontana Gets Frozen for Disney — and His Own Action Figure”. TheaterMania. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2014. 
  104. ^ Nachman, Brett (10 tháng 8 năm 2013). “D23 Expo: Mickey Mouse Short 'Get A Horse' Debuts; Will Open With 'Frozen'”. Geeks of Doom. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2013. 
  105. ^ “Disneyland Resort Debuts 'World of Color -- Winter Dreams,' a Merry New Spectacular for 2013 Holiday Season”. PR Newswire. 27 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2013. 
  106. ^ Bevil, Dewayne (7 tháng 10 năm 2013). “'Frozen' characters set to visit Epcot's Norway, be seen in Magic Kingdom show”. Orlando sentinel. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2013. 
  107. ^ Graser, Marc (19 tháng 11 năm 2013). “Disney’s ‘Frozen’ Premiere Warms Up Audience in Hollywood”. Variety. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2013. 
  108. ^ 2013 WORLDWIDE GROSSES. Box Office Mojo. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2014.
  109. ^ Walt Disney Animation Studios - Box Office Mojo
  110. ^ “All Time Worldwide Opening Records”. Box Office Mojo. IMDb. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2013. 
  111. ^ “'CATCHING FIRE' AND 'FROZEN' HEAT UP FANDANGO’S FANTICIPATION WITH BRISK ADVANCE TICKET SALES FOR THANKSGIVING WEEKEND”. boxoffice.com. 26 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2013. 
  112. ^ “Weekend Report: 'Catching Fire' Burns Bright, Sets November Record”. Box Office Mojo. 24 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2013. 
  113. ^ “TOP WEEKEND THEATER AVERAGES”. Box Office Mojo. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2013. 
  114. ^ “Frozen (2013) - Daily Box Office Results”. Box Office Mojo. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2013. 
  115. ^ “UPDATE Box Office”. https://twitter.com/NikkiFinke. 27 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2013. 
  116. ^ Mendelson, Scott (29 tháng 11 năm 2013). “'Catching Fire', 'Frozen' Chase Thanksgiving Box Office Records”. Forbes. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2013. 
  117. ^ Amidi, Amid (1 tháng 12 năm 2013). “"Frozen" Smashes Disney Animation Opening Weekend Records”. Cartton Brew. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2013. 
  118. ^ Biggest Opening Weekends That Did Not Debut at #1. Box Office Mojo.
  119. ^ a ă “Weekend Report: 'Catching Fire,' 'Frozen' Set Thanksgiving Records”. boxofficemojo.com. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2013. 
  120. ^ Biggest 3-day Thanksgiving Openings at the Box Office. Box Office Mojo. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2013.
  121. ^ Biggest 5-day Thanksgiving Openings at the Box Office. Box Office Mojo. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2013.
  122. ^ Biggest 3-day Thanksgiving Weekends at the Box Office. Box Office Mojo. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2013.
  123. ^ Biggest 5-day Thanksgiving Weekends at the Box Office. Box Office Mojo. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2013.
  124. ^ “NORTH AMERICA: Studio Weekend Estimates: 'The Hunger Games: Catching Fire' Sets New Five-Day Thanksgiving Weekend Record With $110.2M; 'Frozen' Ices Expectations With $93.0M Five-Day Start”. boxoffice.com. 1 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2013. 
  125. ^ Subers, Ray (8 tháng 12 năm 2013). “Weekend Report: 'Frozen' Beats 'Fire,' 'Furnace' Melts”. Boxofficemojo.com. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2013. 
  126. ^ Subers, Ray (29 tháng 12 năm 2013). “Weekend Report: 'Hobbit,' 'Frozen' Top 'Wolf,' 'Mitty' on Final Weekend of 2013”. Box Office Mojo. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2013. 
  127. ^ “RUSSIA: 'Frozen' Off To A Hot Start”. boxoffice.com. 18 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2013. 
  128. ^ Frozen (2013) - International Box Office Results
  129. ^ a ă Sharkey, Betsy (21 tháng 11 năm 2013). “Review: 'Frozen' an icy blast of fun from the first snowflake”. The Los Angeles Times. Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2013. 
  130. ^ a ă Gleiberman, Owen (26 tháng 11 năm 2013). “Movie Review: Frozen (2013)”. Entertainment Weekly. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2013. 
  131. ^ Fallon, Kevin (25 tháng 11 năm 2013). “‘Frozen’ Is the Best Disney Film Since ‘The Lion King’”. The Daily Beast. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2013. 
  132. ^ http://online.wsj.com/news/articles/SB10001424052702304747004579223991264665968
  133. ^ http://www.awardscircuit.com/2013/11/11/frozen-%E2%98%85%E2%98%85%E2%98%85%E2%98%85//
  134. ^ “Frozen (2013)”. Rotten Tomatoes. Flixster. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2013. 
  135. ^ “Frozen”. Metacritic. CBS Interactive. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2013. 
  136. ^ “Box Office: 'Frozen' Opens to Stellar $15.2 Million Wednesday; 'Catching Fire' Still No. 1”. The Hollywood Reporter. 17 tháng 11 năm 2011. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2013. 
  137. ^ Stewart, Andrew (1 tháng 12 năm 2013). “Thanksgiving Box Office: ‘Catching Fire,’ ‘Frozen’ Serve Up Holiday Records”. Variety. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2013. 
  138. ^ Corliss, Richard (4 tháng 12 năm 2013). “Top 10 Best Movies”. TIME. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2013. 
  139. ^ Adams, Ryan (7 tháng 12 năm 2013). “Kyle Smith and Lou Lumenick’s Top 10 lists”. Awards Daily. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2013. 
  140. ^ McCarthy, Todd (24 tháng 10 năm 2013). “Frozen: Film Review”. The Hollywood Reporter. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2013. 
  141. ^ Smith, Kyle. “Disney's 'Frozen' will melt your heart”. New York Post. Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2013. 
  142. ^ Mendelson, Scott (19 tháng 11 năm 2013). “'Frozen' Is Disney's Triumphant Reaffirmation Of Its Cultural Legacy”. Forbes. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2013. 
  143. ^ Corliss, Richard (23 tháng 11 năm 2013). “Frozen: This Disney Princess Movie Is Thaw-some”. TIME. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2013. 
  144. ^ Roeper, Richard (26 tháng 11 năm 2013). “Richard Roeper & the Movies: 'Frozen' Review”. The Chicago Sun-Times. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2013. 
  145. ^ Phillips, Michael (26 tháng 11 năm 2013). “'Frozen': Defying meteorology”. Chicago Tribune. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2013. 
  146. ^ Holden, Stephen (26 tháng 11 năm 2013). “From the Heat of Royal Passion, Poof! It’s Permafrost”. The New York Times. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2013. 
  147. ^ Dibdin, Emma. “'Frozen' review: Heartfelt fairytale musical is a new Disney classic”. Digital Spy. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2013. 
  148. ^ Foundas, Scott (3 tháng 11 năm 2013). “Film Review: 'Frozen'”. Variety. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2013. 
  149. ^ Keogh, Tom (26 tháng 11 năm 2013). “‘Frozen’: Visuals are solid, but narrative is on thin ice”. The Seattle Times. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2013. 
  150. ^ Williams, Joe (27 tháng 11 năm 2013). “'Frozen' is pretty but pointless”. St. Louis Post-Dispatch. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2013. 
  151. ^ Christy Lemire (November 27, 2013). "FROZEN". RogerEbert.com. Ebert Digital LLC. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2013.
  152. ^ a ă â Stampler, Laura. “Do Animated Female Characters Need to Be ‘Pretty’? Read more: Do Animated Female Characters Need to Be ‘Pretty’?”. TIME.com. 
  153. ^ a ă Amidi, Amid. “"Frozen" Head of Animation Says Animating Women is "Really, Really Difficult"”. Cartoon Brew. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2013. 
  154. ^ a ă â Cunningham, Todd. “Disney’s ‘Frozen’ Animator Draws Heat for Female Character Comments”. The Wrap. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2013. 
  155. ^ Sasha Stone (13 tháng 12 năm 2013). “African American Film Critics Name 12 Years a Slave Best Picture of the Year”. Awards Daily. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2013. 
  156. ^ “2013 EDA Award Nominess”. Alliance of Women Film Journalists. 11 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2013. 
  157. ^ “Complete list of 2013 Annie Award nominees for animation”. Los Angeles Times. 2 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2013. 
  158. ^ Adams, Ryan (17 tháng 12 năm 2013). “Austin Film Critics Association Awards”. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2013. 
  159. ^ Stone, Sasha (7 tháng 12 năm 2013). “12 Years sweeps Boston Online Film Critics”. Awards Daily. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2013. 
  160. ^ “American Hustle, 12 Years A Slave Lead BFCA’s Critics Choice Movie Awards Nominations”. Deadline.com. 17 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2013. 
  161. ^ Stone, Sasha (13 tháng 12 năm 2013). “12 Years a Slave Leads Chicago Film Critics Association”. Awards Daily. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2013. 
  162. ^ Lodge, Guy (16 tháng 12 năm 2013). “2013 Dallas-Fort Worth Film Critics Association winners”. HitFix. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2013. 
  163. ^ “Omar, Ilo Ilo win top prizes at DIFF”. Screen Daily. 13 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2013. 
  164. ^ Stone, Sasha (18 tháng 12 năm 2013). “12 Years a Slave wins with Florida Film Critics”. Awards Daily. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2013. 
  165. ^ “Golden Globe Awards Nominations: ‘12 Years A Slave’ & ‘American Hustle’ Lead Pack”. Deadline. 12 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2013. 
  166. ^ “12 Years a Slave wins Pic, Cuaron Director for Houston Film Critics”. Awards Daily. 15 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2013. 
  167. ^ “IGN: Best of 2013 - Movies”. IGN. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2013. 
  168. ^ “Indiana Film Journalists Association Award Winners”. The Hollywood News. 19 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2013. 
  169. ^ “12 Years a Slave sweeps Kansas City critics”. Awards Daily. 15 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2013. 
  170. ^ Davis, Clayton (18 tháng 12 năm 2013). “Las Vegas Film Critics Award ’12 Years a Slave’, John Goodman Gets Lifetime Achievement Award”. The Awards Circuit. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2013. 
  171. ^ Adams, Ryan (20 tháng 12 năm 2013). “Nevada Film Critics Association Awards”. Awards Daily. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2013. 
  172. ^ “Phoenix Film Critics Society 2013 Award Nominations”. Phoenix Film Critics Society. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2013. 
  173. ^ “Nominations for Theatrical Motion Picture, Animated Theatrical Motion Picture and Long-Form TV”. producersguild.org. 2 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2014. 
  174. ^ Stone, Sasha (10 tháng 12 năm 2013). “San Diego Film Critics”. Awards Daily. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2013. 
  175. ^ Stone, Sasha (13 tháng 12 năm 2013). “San Francisco Film Critics Nominations”. Awards Daily. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2013. 
  176. ^ International Press Academy (2 tháng 12 năm 2013). “The International Press Academy Announces Nominations For The 18th Annual Satellite Awards™”. PR Newswire. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2013. 
  177. ^ Tapley, Kristopher (16 tháng 12 năm 2013). “2013 Southeastern Film Critics Association winners”. HitFix. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2013. 
  178. ^ Stone, Sasha (9 tháng 12 năm 2013). “The St. Louis Film Critics Nominations”. Awards Daily. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2013. 
  179. ^ Lacey, Liam (17 tháng 12 năm 2013). “Toronto film critics name Coen brothers movie the best of 2013”. The Globe and Mail. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2013. 
  180. ^ Szklarski, Cassandra (17 tháng 12 năm 2013). “Toronto critics pick Inside Llewyn Davis”. Metron News. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2013. 
  181. ^ Adams, Ryan (20 tháng 12 năm 2013). “Utah Film Critics ###.”. Awards Daily. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2013. 
  182. ^ Stone, Sasha (7 tháng 12 năm 2013). “Washington DC Film Critics Announce Nominations”. Awards Daily. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2013. 
  183. ^ Tapley, Kristopher (16 tháng 12 năm 2013). “2013 Women Film Critics Circle winners”. HitFix. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2013. 
Tiếng Việt
  1. ^ “3D Nữ Hoàng Băng Giá - Megastar Cineplex | Cinema”. Truy cập Ngày 3 tháng 11 năm 2013. 
  2. ^ Ý Ly (24 tháng 11 năm 2013). “Dương Hoàng Yến khoe giọng trong 'Frozen' bản lồng tiếng Việt”. VnExpress iOne. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2014. 
  3. ^ Nguyên Minh (13 tháng 12 năm 2013). “‘Frozen’, món quà cho mùa Giáng sinh”. VnExpress. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2014. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Bản mẫu:The Snow Queen