Phạm Lãi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Phạm Lãi

Phạm Lãi (chữ Hán: 范蠡), tên tựThiếu Bá (少伯), là một tướng tài của nước ViệtTrung Hoa thời Xuân Thu Chiến Quốc, người đã giúp Việt vương Câu Tiễn tiêu diệt nước Ngô.

Mưu thần phục quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm: Văn Chủng

Khi Câu Tiễn muốn đem quân sang đánh nước Ngô, Phạm Lãi can nhưng Câu Tiễn không nghe. Kết quả là bị vua Ngô Phù Sai đánh cho đại bại ở Cối Kê, bị bắt làm tù binh. Sau đó Việt vương được tha cho về nước.

Về tới nước, Câu Tiễn bên trong nuôi chí phục thù, nhưng ngoài mặt giả vờ tuân phục, hằng năm đều đặn triều cống. Việt vương giao Phạm Lãi bí mật luyện tập quân đội, tích trữ quân lương. Cùng lúc, Phạm Lãi và bạn thân là đại thần Văn Chủng dùng mỹ nhân kế tuyển lựa người đẹp trong nước là Thi Di Quang (tức Tây Thi - một trong Tứ đại Mỹ nhân Trung Hoa) và Trịnh Đán (sau được gọi là Đông Thi) dâng cho vua nước Ngô là Ngô Phù Sai làm cho Ngô vương hoang dâm, xa xỉ, bỏ bê chính sự, giết hại trung thần Ngũ Tử Tư (một trong những trụ cột chính của đất nước).

Cuối cùng Câu Tiễn đánh úp nước Ngô, tiêu diệt được Ngô Phù Sai rửa được cái nhục ở Cối Kê (năm 473 TCN).

Rút lui đúng lúc[sửa | sửa mã nguồn]

Khi đại sự thành công, Phạm Lãi cho rằng vua Việt có tướng cổ cao, môi dài mỏ quạ, là người nhẫn tâm mà ghét kẻ có công, cùng ở lúc hoạn nạn thì được chứ lúc an lạc thì không được, nên không ở lại làm quan mà bí mật trốn đi ở ẩn.

Theo Sử ký[1] - nguồn tài liệu đáng tin cậy hơn cả - Phạm Lãi đến nước Tề, cha con cùng tự cày cấy làm ăn. Nước Tề sai sứ mang ấn tướng quốc đến mời ông vào triều, nhưng ông từ chối, không màng công danh, rồi cùng gia quyến đến đất Đào, đổi tên thành Đào Chu Công (陶朱公) và trở thành một thương gia giàu có lúc bấy giờ. Tài liệu này còn kể chuyện ông sinh thêm 1 con trai út ở đất Đào[1]. Phạm Lãi có khi nhớ nước Việt đã trở về thăm, có người từng thấy ông lai vãng ở Dường Thành nên sau này đổi tên lại thành Dương Thành Thành Lãi để tưởng nhớ ông. Khi về tới Việt ông thấy rất vui khi dân được ấm no và hạnh phúc.[2] Câu chuyện về người con thứ của Phạm Lãi bị án chết chém ở nước Sở (xem ở dưới) cho thấy khi bỏ nước Việt ra đi, ông mang theo toàn bộ gia quyến và không đi cùng Tây Thi[1].

Tại nước Tề, Đào Chu Công đã viết sách "Trí phú kỳ thư"

Có thuyết nói rằng ông rủ người đẹp Tây Thi lên thuyền đi vào Ngũ Hồ, cắt đứt mọi mối quan hệ với thế giới bên ngoài, sống cuộc đời phóng khoáng tự do, khi ca hát, khi câu cá, lúc đọc sách, mặc cho thời gian trôi qua [cần dẫn nguồn].

Nhưng có thuyết khác bác bỏ ý trên. Đông Chu Liệt Quốc cho rằng khi diệt được Ngô, Câu Tiễn định mang Tây Thi về Việt nhưng vợ Câu Tiễn ghen nên bí mật sai người bắt nàng, buộc đá vào cổ và đẩy xuống sông cho chết. Vì thế Phạm Lãi chỉ đi một mình[cần dẫn nguồn].

Mười sáu nguyên tắc kinh doanh buôn bán của Đào Chu Công[sửa | sửa mã nguồn]

Trong suốt quãng đời ẩn danh, mưu sinh bằng nghề buôn, ông đã đúc kết cho mình và cho thiên hạ được 16 nguyên tắc kinh doanh hết sức quý giá truyền lại cho đến nay. Sách cổ Trung Hoa sau này ghi lại với tựa là "Đào Chu Công lý tài thập lục tắc" – nghĩa tạm dịch là "Mười sáu nguyên tắc mua bán của Đào Chu Công".

Mười sáu quy tắc kinh doanh được phân chia thành ba mục cụ thể rõ ràng.

VỀ CON NGƯỜI:

1. Sinh ý yếu cần khẩn:

Kinh doanh cần phải cần cù siêng năng, công việc phải luôn luôn khẩn trương thực hiện mới đạt hiệu quả cao. Do là công việc quan trọng liên quan cơm áo, gạo tiền...(sinh ý = cầu ý chí kiếm sống, hay sinh tồn, tồn tại...) nên cần phải cần cù và khẩn trương, thiết nghĩ không còn gì đúng hơn thế nữa...

2. Dụng độ yếu tiết kiệm:

Chi dụng hàng ngày và mọi phí tổn phải chú ý tiết kiệm và có lợi nhất, Người làm thương mại dịch vụ chủ yếu lấy công làm lời nên việc tích tiểu thành đại, góp gió thành bão bao giờ cũng ưu tiên. Nhưng kẻ đại gia thời nay đa số vẫn là những người cần kiệm, họ không bao giờ hoang phí nên cũng là một yếu tố giúp họ ngày một giàu thêm hơn nữa...

3. Tiếp nạp yếu khiêm hoà:

Khi giao tiếp, thương lượng cần phải khiêm tốn, cung kính, hoà nhà, Người làm kinh doanh bao giờ cũng quan trọng thể diện và uy tín, nên giữ bộ mặt và sĩ diện của mình hết sức quan trọng, tránh lệ thuộc đua chen hoặc mang tiếng là phô trương thái quá, thiếu khiêm tốn và hách dịch, quan liêu, thất lễ...

VỀ PHƯƠNG THỨC KINH DOANH

4. Mãi mại yếu tuỳ thời:

Làm kinh doanh, Mua bán phải tùy theo thời điểm mà kinh doanh, không được dự đoán sai nhu cầu thị trường hoặc mua bán sau đuôi thiên hạ, Những dự báo sai bao giờ cũng đưa đến kết quả thảm hại, sai một ly đi một dặm...

5. Vượng khiếm yếu thức nhân:

Phải biết rõ nhân viên và đối tác giàu hay nghèo, tránh tình trạng thâm lạm công quỹ, dây dưa công nợ, gây ra nợ khó đòi hoặc thất thoát do hoàn cảnh túng bấn họ làm liều.

6. Trương mục yếu kê tra:

Tài khoản, sổ sách, hồ sơ khách hàng, hàng hoá trong kho, trong thuyền, trên xe hoặc nguồn nguyên liệu, vật liệu phải thường xuyên kê khai, công khai tài chính và số liệu, đảm bảo tra xét chu đáo rõ ràng nhằm vừa quản lý tốt, vừa dự báo tình hình chính xác, vừa chống thất thoát, vừa chuẩn bị kịp thời cho các kế hoạch làm việc sắp tới...Tránh bê bối sổ sách, thâm hụt ngân quỹ, thất thoát tài sản, hư hao lãng phí...

7. Ưu liệt yếu phân biệt:

Phàm làm chủ, làm Lãnh đạo phải có cặp mắt xét đoán, biết nhìn người và phân biệt thị phi, trắng đen rõ ràng, Phải biết phân biệt và xét đoán kẻ tốt người xấu để tuyển dụng, uỷ quyền, tổ chức công việc và phân công nhân viên, phải biết nhìn người để lựa chọn đối tác đàng hoàng nghiêm chỉnh, tránh chọn nhầm đối tác xấu có thể gây tác hại lớn khi giao dịch. Phải biết ưu điểm và khuyết điểm của nhân sự dưới quyền, thế mạnh và thói xấu của những người xung quanh nhằm tránh giao sai người thiếu năng lực, sai việc, sai địa điểm, sai trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng.

8. Dụng nhân yếu phương chính:

Dùng người tâm phúc hoặc thuộc cấp trong tổ chức phải là những người phương cương chính trực,có tài đức, ngay thẳng để vừa giúp mình giữ gìn kỷ luật, giúp làm gương cho người xung quanh tránh tiêu cực, bè lũ, phe phái gây mất đoàn kết, gây thiệt hại trong quản lý điều hành.

9. Xuất nhập yếu cẩn thận:

Hàng hoá, sổ sách, tiền bạc thu chi hàng ngày phải cẩn thận, ghi chép, lưu trữ phải chính xác. Phải có công cụ và phương tiện lưu trữ, bảo quản tránh cháy, nổ, hư hỏng. công tác xuất nhập phải được đối chiếu thường xuyên, cần chính xác tránh gây sai lệch, thất thoát hoặc tạo điều kịên cho kẻ xấu lợi dụng.

10. Hoá sắc yếu diện nghiệm:

Hàng hoá muốn mua, nhập kho phải được xem xét thấy tận mắt, đến tận nơi, sờ tận tay. Phải đat tiêu chuẩn tra xét, kiểm soát, kiểm nghiệm nhằm tránh mua trâu vẽ bóng hoặc mua hàng kém chất lượng

11. Kỳ hạn yếu ước định:

Làm ăn phải coi trọng chữ tín, đúng kỳ hạn tránh tình trạng bị phạt hay bồi thường vì trễ hẹn.

12. Tồn lưu yếu kiểm soát:

Hàng hoá trong kho bãi phải được kiểm soát, bảo vệ che đậy, tránh thất thoát, mất trộm, hư hỏng vì mưa nắng, thời tiết nóng ẩm, lũ lụt...

VỀ XÃ HỘI

13. Nha môn yếu thông giám:

Làm ăn bất kỳ nơi đâu phải hiểu biết luật pháp, thuế suất, đặt qan hệ quen biết với cơ quan công quyền nhằm tạo thuận lợi cho việc kê khai giấy tờ, hàng hoá. Việc thông qua cơ quan công quyền để họ giám sát vịêc kinh doanh là một bước đi khôn ngoan để có thể thăm dò tình hình, tin tức chính trị xã hội nhằm có đối sách thích hợp. Mặt khác, mối quen biết có thể tạo tiền đề cho những lúc cần giải cứu về rắc rối luật pháp trong kinh doanh hoặc tạo vỏ bọc bảo vệ an toàn cho chính doanh nghiệp

14 Thịnh vượng yếu tích đức:

Càng phát đạt thì phải càng tích đức hành thiện, vừa làm quảng cáo cho sản phẩm vừa tạo quan hệ tốt đẹp với cộng đồng, nhằm lôi kéo thiện cảm của cộng đồng để họ ủng hộ thương hiệu và sản phẩm.

15 Dụng vốn yếu tương hỗ:

Buôn có bạn, bán có phường, Đối với đối tác kinh doanh cùng ngành nghề nên có sự hợp tác mật thiết, nên giúp đỡ lẫn nhau về vốn tài chính, để dễ mượn thị trường hoặc bạn hàng. Hoặc những khi hàng hoá, thị trường bị thiếu hụt, có thể hỗ trợ lẫn nhau. Mặt khách thương hội có thể tạo điều kiện xúc tiến thương mại ở những nơi xa lạ.

16. Xử thế yếu độ lượng:

Đối xử thuộc hạ phải độ lượng, làm công tác tư tưởng và động viên thường xuyên để họ trung thành và cống hiên sức lục và tài trí. Những khi thuộc cấp phạm lỗi thường khen trước chê sau, xử sự nhẹ nhàng thấu tình đạt lý để họ tâm phục khẩu phục. Giữ vững đội ngũ nhân sự ổn định dưới quyền chính là giữ vững sự phát triền bền lâu cho chính cơ ngơi của mình.

Lời khuyên Văn Chủng[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Sử ký, khi bỏ sang Tề, trong thư Phạm Lãi gửi cho Văn Chủng có đoạn viết[1]:

"Phi điểu tận, lương cung tàng. Giảo thố tử, tẩu cẩu phanh. Việt vương vi nhân trường cảnh điểu uế, khả dữ cộng hoạn nạn, bất khả dữ cộng lạc. Tử hà bất khứ?"

Dịch nghĩa:

Chim bay mất hết, cung tốt được cất đi. Thỏ khôn chết, chó săn bị nấu. Việt vương là người cao cổ, miệng chim, chỉ có chung hoạn nạn mà không thể chung vui. Thầy sao còn chưa lui về?

Văn Chủng nhận được thư, cáo bệnh không vào triều. Có người sàm tấu Văn Chủng muốn phản loạn. Câu Tiễn ép Văn Chủng tự sát bằng cách ban cho ông thanh kiếm và viết "Tử giáo quả nhân phạt Ngô thất thuật, quả nhân dụng kì tam nhi bại Ngô, kì tứ tại tử, tử vi ngã tòng tiên vương thí chi."[1] (Dịch nghĩa: Thầy dạy quả nhân 7 thuật phạt Ngô, quả nhân dùng 3 đánh bại Ngô, còn 4 ở lại với thầy, thầy vì ta theo tiên vương mà thử.). Văn Chủng bèn tự sát. Theo một tài liệu khác Văn Chủng bị chém chết[3] dù Văn Chủng không có tội gì.

Cũng từ đó mà có thành ngữ "Thỏ tử cẩu phanh", dùng để ám chỉ thói đời đen bạc, lấy oán trả ân, các vị vua hung bạo bất nhân, khi đã lập quốc thành công rồi thì trở mặt giết hại các công thần.

Nhận định[sửa | sửa mã nguồn]

Cuốn Sử ký, mục Việt vương Câu Tiễn thế gia, phần cuối được Tư Mã Thiên nhận định: Phạm Lãi ba lần đổi chỗ ở mà thành danh trong thiên hạ. Không phải ông ta chỉ bỏ đi một cách dễ dàng và thế là hết. Ông ta ở đâu, là nổi danh ở đấy

Phạm Lãi là tướng tài duy nhất sống sót, bởi ông đã sớm nhận ra con người của Câu Tiễn. Ông được người đời sau khen là:

Người như ngọc chuốt, lòng tựa lửa hồng
Đức còn chảy mãi, nhân tỏ vĩnh hằng[4]

Cứu nước không cứu nổi con[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Sử ký, con thứ Phạm Lãi phạm tội giết người, bị giam ở nước Sở[1]. Phạm Lãi quen tướng quốc Sở là Trang Sinh, sai con mang 1.000 dật (24.000 lượng) vàng đi "đút lót" cho Trang Sinh xin tha con mình[1]. Ông muốn sai đứa con út đi, nhưng người con cả nhất định đòi đi, nếu không sẽ tự sát; vợ ông cũng muốn để người con cả đã chín chắn vì sợ cậu con út còn ít tuổi. Cuối cùng ông đành nghe theo[1].

Người con cả đến nước Sở gặp Trang Sinh, đưa vàng và ngỏ lời nhờ tha cho em mình. Trang Sinh nhận lời, bảo con Phạm Lãi cứ về, rồi em sẽ được thả mà không được hỏi lý do tại sao. Trang Sinh vốn là người ngay thẳng, định bụng sau khi xong việc sẽ hoàn lại vàng cho Đào Chu công[1].

Sau đó Trang Sinh vào tâu vua Sở Huệ Vương, mượn điềm thiên văn tai ương để xui vua Sở phóng thích tù nhân, làm điều phúc đức tránh tai hoạ. Vua Sở nghe theo, bèn ra lệnh sẽ thả hết phạm nhân[1].

Con cả Phạm Lãi chưa về ngay, lại lấy tiền riêng của mình mang theo là 100 dật[1], nhờ cậy một vị quan khác nước Sở nghe ngóng tình hình. Nghe tin vị đó báo lại là vua Sở sẽ đại xá, anh ta nghĩ rằng đáng lý mình không phải phí vàng đem đút lót mà em mình vẫn được thả, nên quay lại nhà Trang Sinh. Trang Sinh biết ý anh ta muốn đòi vàng, bèn trả lại; nhưng trong bụng thấy xấu hổ vì bị trẻ con nghĩ rằng mình là kẻ tham lam, bèn vào tâu vua Sở rằng:

Tôi nghe thiên hạ dị nghị rằng đại vương nhận tiền đút lót của Phạm Lãi nên mới đại xá thiên hạ, làm giảm ân đức của người. Vậy xin chém riêng con Phạm Lãi để thiên hạ thấy sự nghiêm minh, nhân đức của đại vương![1]

Vua Sở nghe theo, bèn sai mang con thứ Phạm Lãi trong ngục ra chém, còn những phạm nhân khác đều tha. Người con cả mang xác em về. Bà vợ khóc than, Phạm Lãi nói:

Sở dĩ tôi muốn sai thằng út đi, vì khi nó sinh ra, nhà ta đã khá giả; vì thế nó sẽ không tiếc của mang hối lộ người ta. Còn thằng cả sinh ra khi nhà ta còn nghèo khó, nó sẽ tiếc của. Bởi thế lúc nó đi, tôi biết là nó sẽ phải mang xác em nó về[1].

Phạm Lãi hiểu nhân tình thế thái, không những hiểu từng đứa con, còn hiểu cả Trang Sinh nữa; tuy ông có thể cứu nước Việt nhưng lại không cứu nổi con mình. Câu chuyện cái chết của người con ông để lại bài học sâu sắc cho hậu thế về cách đối nhân xử thế trong xã hội.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k Sử ký: quyển 41, Thế gia - Việt vương Câu TIễn thế gia
  2. ^ Cuốn Tây Thi của Lợi Bảo, dịch giả Ông Văn Tùng, tr.694, 695
  3. ^ Cuốn Tây Thi của Lợi Bảo, dịch giả Ông Văn Tùng, tr.679
  4. ^ Cuốn Tây Thi của Lợi Bảo, dịch giả Ông Văn Tùng, tr.651

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]