Đài Á Châu Tự do

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ RFA)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đài Á Châu Tự do
Gọi tắt RFA
Thành lập 1996
Loại hình Tư nhân, phi lợi nhuận
Mục đính Truyền thông
Tọa độ Washington, D.C
Ngôn ngữ chính thức Phổ thông, Quảng Đông, Tạng, Uyghur, Miến Điện, Việt, Lào, Khmer, và Triều Tiên
Chủ tịch Libby Liu
Tổ chức chủ quản Broadcasting Board of Governors
Trang web rfa.org

Đài Á châu Tự do (Radio Free Asia, viết tắt là RFA) là một đài phát thanh tư nhân được Quốc hội Hoa Kỳ tài trợ và phát thanh bằng 9 thứ tiếng Á châu.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thập niên 1950[sửa | sửa mã nguồn]

Đài Á châu Tự do có nguồn gốc là một đài phát thanh tuyên truyền của chính phủ Mỹ bằng các thứ tiếng địa phương phần lớn là các nước cộng sản tại Á châu. Ban đầu được thành lập và tài trợ bởi Cục Tình báo Trung ương Hoa Kỳ vào năm 1950 qua một tổ chức tuyến đầu gọi là "Ủy ban cho Á châu Tự do" (Committee for Free Asia) như một hoạt động tuyên truyền chống cộng sản, phát thanh từ ManilaPhilippines, và DaccaKarachiPakistan (cũng có thể có những nơi khác nữa) đến năm 1961[cần dẫn nguồn]. Có vài văn phòng đặt tại Tokyo. Tổ chức mẹ có tên là Quỹ hội Á châu. Năm 1971 sự dính dáng của Cục Tình báo Trung ương Hoa Kỳ vào đài chấm dứt và tất cả trách nhiệm được chuyển sang Hội đồng Phát thanh Quốc tế (Board for International Broadcasting hay BIB) được Tổng thống Hoa Kỳ bổ nhiệm[1].

Hiện thời[sửa | sửa mã nguồn]

Được hợp lại như một tổ chức tư nhân vào tháng ba năm 1996, Đài Á châu Tự do bắt đầu phát thanh trong tháng 9 năm 1996[2].

Hiện nay, Đài Á châu Tự do phát thanh bằng 9 thứ tiếng qua các sóng ngắn và mạng Internet. Lần phát thanh đầu tiên là bằng tiếng Quan thoại và đây là chương trình công phu nhất của Đài Á châu Tự do khi nó được phát thanh 12 tiếng mỗi ngày. Đài Á châu Tự do cũng phát thanh bằng tiếng Quảng Đông, tiếng Tây Tạng, tiếng Uyghur, tiếng Miến Điện, tiếng Việt, tiếng Lào, tiếng Khmertiếng Triều Tiên (đến Bắc Hàn).

Quan tâm chính trị tại Hoa Kỳ về việc phát thanh đến Á châu nảy sinh trở lại sau Biến cố Thiên An Môn năm 1989[3].

Đạo luật Phát thanh Quốc tế (International Broadcasting Act) được Quốc hội Hoa Kỳ thông qua năm 1994. Đài Á châu Tự do chính thức trở thành một tập đoàn tư nhân bất vụ lợi. Đài Á châu Tự do được tài trợ bởi một quỹ hàng năm của liên bang do Hội đồng quản trị Phát thanh điều hành (Broadcasting Board of Governors hay BBG). Hội đỗng quản trị này phục vụ như ban giám đốc của Đài Á châu Tự do, trao và giám sát quỹ cho Đài Á châu Tự do.

Sứ mệnh được nêu rõ cho BBG là "thúc đẩy và nâng đỡ tự do và dân chủ bằng phát thanh các thông tin và tin tức chính xác và khách quan về Hoa Kỳ và thế giới đến bạn nghe đài tại hải ngoại. [...][4] Đài Á châu Tự do phát thanh tin tức và thông tin đến người nghe đài ở Á châu mà những người này thiếu thông tin tường thuật đầy đủ và cân bằng từ truyền thông trong nước. Qua phát thanh và chương trình gọi điện thoại vào, Đài Á châu Tự do hướng mục tiêu là san lấp một lỗ hổng lớn trong đời sống của người dân khắp Á châu."[5]

Phá sóng và ngăn mạng[sửa | sửa mã nguồn]

Kể từ khi đài bắt đầu phát thanh năm 1996, chính phủ Trung Quốc đã liên tục phá sóng phát thanh của Đài Á châu Tự do[6].

Ba thông tín viên của Đài Á châu Tự do bị từ chối nhập cảnh vào Trung Quốc để tường trình về chuyến viếng thăm của Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton vào tháng 6 năm 1998. Tòa Đại sứ Trung Quốc tại Washington D.C. ban đầu đã cấp thị thực nhập cảnh cho cả ba nhưng sau đó xét lại chỉ không lâu trước khi Tổng thống Clinton rời Washington trên đường đến Bắc Kinh. Nhà TrắngBộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã đưa ra lời than phiền với chính phủ Trung Quốc về vấn đề này nhưng cuối cùng thì các thông tín viên cũng không đi được[6][7].

Chương trình phát thanh của đài Á Châu Tự do vào Việt Nam cũng bị phá sóng từ khi bắt đầu[8]. Quốc hội Hoa Kỳ đã để xuất ra nhiều đạo luật liên quan đến nhân quyền Việt Nam, nhằm tạo ngân quỹ để chống các biện pháp phá sóng đài Á Châu Tự do của chính phủ Việt Nam[9]. Nghiên cứu của dự án OpenNet Initiative, chuyên quan sát việc kiểm soát Internet của các chính quyền trên Internet, cho thấy phần tiếng Việt của website Á châu Tự do bị cả hai nhà cung cấp dịch vụ Internet tại Việt Nam ngăn vào, trong khi phần tiếng Anh chỉ bị một nhà cung cấp cấm[10].

Để đối đầu với các hiện tượng này, đài Á Châu Tự do đã đưa thông tin cách tạo ăng ten chống phá sóng và cách truy cập dùng proxy server trên website chính thức của họ[11].

Sứ mệnh[sửa | sửa mã nguồn]

Thông tin phát thanh
Ngôn ngữ Ngày bắt đầu Số giờ phát thanh
hàng ngày
tiếng Miến Điện Tháng 2 năm 1997 2 tiếng
tiếng Quảng Đông Tháng 5 năm 1998 2 tiếng
tiếng Khmer Tháng 9 năm 1997 2 tiếng
tiếng Triều Tiên Tháng 3 năm 1997 4 tiếng
tiếng Lào Tháng 8 năm 1997 2 tiếng
tiếng Quan thoại Tháng 9 năm 1996 12 tiếng
tiếng Tây Tạng Tháng 12 năm 1996 8 tiếng
tiếng Uyghur Tháng 12 năm 1998 2 tiếng
tiếng Việt Tháng 2 năm 1997 2 tiếng

Theo thông tin trên website chính thức, Đài Á châu Tự do khẳng định đài là một tập đoàn tư nhân phi lợi nhuận phát thanh các thông tin và tin tức bằng 9 thứ tiếng bản xứ Á châu đến những người nghe đài không tiếp cận được với truyền thông tin tức đầy đủ và tự do. Mục đích của Đài Á châu Tự do là cung ứng một diễn đàn cho nhiều ý kiến và tiếng nói trong các quốc gia Á châu này[12].

Đạo luật Phát thanh Quốc tế của Hoa Kỳ năm 1994 (PL 103-236, Mục III) có nêu rõ ràng về sứ mệnh của Đài Á châu Tự do: "Việc tiếp tục phát thanh quốc tế như hiện có của Hoa Kỳ, và việc thành lập dịch vụ phát thanh mới đến người dân của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và các quốc gia Á châu khác, là những người thiếu nguồn thông tin và ý tưởng tự do, sẽ nâng cao sự thăng tiến thông tin và ý tưởng trong lúc đó thúc đẩy mục tiêu chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ."

Chỉ trích[sửa | sửa mã nguồn]

Catharin Dalpino thuộc Viện Brookings, từng phục vụ trong Bộ Ngoại giao của Clinton với tư cách phụ tá Phó Bộ trưởng đặc trách về nhân quyền, đã gọi Đài Á châu Tự do là "một sự lãng phí tiền bạc". Bà cũng nói "Bất cứ nơi đâu chúng ta cảm thấy có một kẻ thù tư tưởng, chúng ta sẽ có ngay một Đài Gì đó Tự do". Dalpino nói bà ta đã đọc qua các bài viết phát thanh của Đài Á châu Tự do và thấy cách tường thuật của đài là không cân bằng. "Họ dựa quá nặng vào các tường thuật bởi và về các người bất đồng chính kiến sống lưu vong. Nó không giống là tường thuật những gì đang xảy ra tại một quốc gia. Thường thường nó đọc giống như là một sách giáo khoa về dân chủ, điều đó cũng được đi, nhưng thậm chí đến cả một người Mỹ cũng nghĩ đó là tuyên truyền không hơn không kém."[13]

Theo một bản báo cáo của Ban Nghiên cứu Quốc hội (Congressional Research Service) của chính phủ Hoa Kỳ, các tờ báo nhà nước của Trung Quốc đã có hàng loạt bài viết đưa tin rằng Đài Á châu Tự do là hoạt động phát thanh của Cục Tình báo Trung ương Hoa Kỳ[3].

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Laville/Wilford p. 215, Engelhart p. 120, Thussu p. 37
  2. ^ Mann, "After 5 Years of Political Wrangling, Radio Free Asia Becomes a Reality", The Los Angeles Times, September 30, 1996
  3. ^ a ă Susan B. Epstein: Radio Free Asia (CRS Report for Congress; PDF)
  4. ^ BBG mission is: To promote and sustain freedom and democracy by broadcasting accurate....
  5. ^ Xinjiang: China's Muslim Borderland, "...RFA aims to fill a critical gap in the lives of people across Asia."
  6. ^ a ă Mann, "China Bars 3 Journalists From Clinton's Trip", The Los Angeles Times, June 23, 1998
  7. ^ Sieff/Scully "Radio Free Asia reporters stay home; Clinton kowtows to Beijing’s ban, critics contend", The Washington Times, June 24, 1998
  8. ^ “Radio Free Asia says broadcasts to Vietnam are being jammed”. CNN. 7 tháng 2, 1997. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2008. 
  9. ^ “H.R. 1587 Vietnam Human Rights Act of 2004”. Cơ quan Ngân sách Quốc hội. 24 tháng 6, 2004. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2008. 
  10. ^ “OpenNet Initiative: Vietnam”. OpenNet Initiative. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2008. 
  11. ^ “RFA: Ăng-ten chống phá sóng”. Bản gốc lưu trữ 30 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2008. 
  12. ^ Radio Free Asia
  13. ^ Dick Kirschten: Broadcast News (GovExec.com, 1 May 1999)

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tom Engelhardt: The End of Victory Culture. Cold War America and the Disillusioning of a Generation (University of Massachusetts Press 1998); ISBN 1-55849-133-3.
  • Helen Laville, Hugh Wilford: The US Government, Citizen Groups And the Cold War. The State-Private Network (Routledge 1996); ISBN 0-415-35608-3.
  • Daya Kishan Thussu: International Communication. Continuity and Change (Arnold 2000); ISBN 0-340-74130-9.
  • Andrew Defty: Britain, America and Anti-Communist Propaganda, 1945-53. The Information Research Department (Routledge 2004); ISBN 0-7146-5443-4.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]