Sông Amazon

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Sông Amazon
Amazonfloden.png
Lưu vực sông tại Nam Mỹ
Các quốc gia lưu vực Brasil (62.4%), Peru (16.3%)
Bolivia (12.0%), Colombia (6.3%)
Ecuador (2.1%)
Độ dài 6.800 km (4.000 dặm)
Lưu lượng trung bình 220.000 m³/s (7.750,080 ft³/s)
Diện tích lưu vực 7.000.000 km² (3.000.000 mi²)
Thượng nguồn Nevado Mismi
Cửa sông Brasil

Sông Amazon (tiếng Tây Ban Nha: Río Amazonas; tiếng Bồ Đào Nha: Rio Amazonas) là một dòng sôngNam Mỹ. Amazon là sông dài thứ nhất trên thế giới với chiều dài 6.800 km (theo kết quả mới khảo sát, vì thế sông Nile đã tụt xuống vị trí thứ 2) và là sông có lưu vực lớn nhất thế giới. Sông Amazon chiếm khoảng 20% tổng lưu lượng nước ngọt cung cấp cho các đại dương [1]. Chỗ rộng nhất của sông vào mùa khô khoảng 11 km (6.8 dặm). Vào mùa mưa lũ, chỗ rộng nhất của sông có thể lên đến 40 km (24.8 dặm) và khu vực cửa sông có thể rộng tới 325 km (202 dặm) [1]. Do độ rộng của sông như vậy, người ta còn gọi là sông biển.

Mục lục

Lịch sử[sửa]

Sông Amazon được Francisco De Orellan phát hiện năm 1542, ban đầu nó được đặt tên là Riomar. Con sông Amazon thuộc hàng dài nhất thế giới nằm ở khu vực Nam Mỹ được xác định đã 11 triệu năm tuổi. Nó có hình dạng như hiện nay từ 2,4 triệu năm trước. Đây là kết quả nghiên cứu của những nhà khoa học tại Đại học Liverpool Anh, Đại học Amsterdam Hà Lan và công ty dầu mỏ quốc gia Brazil Petrobras. Họ đưa ra kết luận này nhờ nghiên cứu những mẫu trầm tích lấy từ hai lỗ khoan ở cửa sông Amazon.

Trước nghiên cứu này, độ tuổi chính xác của sông Amazon vẫn là một bí ẩn. Các nhà nghiên cứu vốn không thể xâm nhập vào Amazon Fan - một cột trầm tích dày tới 10 km - ở con sông này. Công ty Petrobras đã quyết định khoan hai lỗ ở cửa sông Amazon - một cái sâu tới 4,5 km dưới mực nước biển - để lấy trầm tích phục vụ cho nghiên cứu.

"Trầm tích của sông cung cấp dữ liệu về khí hậu và địa lý thời cổ đại của khu vực", Jorge Figueiredo - thuộc khoa nghiên cứu đại dương và trái đất Đại học Liverpool - cho biết. "Nghiên cứu này cũng có ý nghĩa quan trọng trong việc cung cấp hiểu biết cho chúng ta về địa lý học Nam Mỹ cũng như sự tiến hóa sinh vật biển ở khu vực Amazon và vùng bờ biển Đại Tây Dương".

Tuy nhiên, Amazon, dù được xem là dài nhất thế giới, vẫn khá "trẻ" so với nhiều con sông khác trên thế giới. "Sông New ở Bắc Mỹ và Nile ở châu Phi được cho là đã hàng trăm triệu năm tuổi", Carina Hoorn, thuộc Đại học Amsterdam, cho hay.

Địa lý[sửa]

Lưu vực[sửa]

Bản đồ lưu vực sông Amazon

Lưu vực sông bao phủ phần lớn rừng Amazon, khu rừng nhiệt đới lớn nhất trên thế giới, chiếm diện tích 6.144.727 km² (phần lớn ở Brasil).

Amazonlưu vực rộng nhất thế giới với hơn 1.000 sông nhánh đan chéo nhau dệt thành một mạng sông dày đặc, trong đó có hơn 17 nhánh có chiều dài 1.500 km. Lưu vực Amazon chiếm khoảng 40% tổng diện tích đại lục Nam Mỹ, lớn gấp đôi diện tích lưu vực sông Congo ở châu Phi.

Sông Amazon và các phụ lưu của nó đặc trưng bởi những khu rừng rộng lớn bị ngập nước vào mỗi mùa mưa. Mỗi năm mực nước sông dâng cao hơn 9 mét (30 ft), làm ngập lụt các khu vực rừng lân cận, được gọi là várzea ("rừng bị ngập nước"). Các khu rừng bị ngập nước của Amazon là những ví dụ điển hình nhất cho kiểu môi trường sống này trên thế giới.[2] Tính trung bình trong mùa khô, diện tích bị ngập nước khoảng 110.000 kilômét vuông (42.000 sq mi), trong khi mùa mưa diện tích bị ngập nước trong lưu vực lên đến 350.000 kilômét vuông (140.000 sq mi).[3]

Lượng nước từ sông Amazon đổ ra Đại Tây Dương rất lớn, lên đến 300.000 mét khối trên giây (11.000.000 cu ft/s) trong mùa mưa, trung bình 209.000 mét khối trên giây (7.400.000 cu ft/s) trong khoảng thời gian từ 1973 đến 1990.[4] Amazon cung cấp khoảng 20% lượng nước ngọt trên thế giới đổ vào đại dương.[2] Lượng nước mà con sông đổ vào đại dương tương đương một cột nước có kích thước dài 400 kilômét (250 mi) và rộng 100 đến 200 kilômét (62 đến 120 mi). Nước ngọt nhẹ hơn nước biển, khi chảy vào đại dương sẽ nằm ở trên, pha trộn với nước mặn, làm thay đổi màu sắc của bề mặt đại dương trên một diện tích lên đến 1.000.000 dặm vuông (2.600.000 km2). Qua nhiều thế kỷ các tàu qua lại đã báo cáo rằng vùng nước ngọt gần cửa sông nằm ngoài tầm nhìn đến đất liền và có vẻ như là một đại dương mở.[5]

Năng lượng sóng và thủy triều của Đại Tây Dương đủ để mang hầu hết vật liệu trầm tích của sông Amazon ra biển, do đó Amazon không hình thành một đồng bằng châu thổ thực sự. Các đồng bằng châu thổ lớn trên thế giới tất cả nằm trong các vùng nước được bảo vệ một cách tương đối, trong khi Amazon không hội đủ những yếu tố như thế.[6]

Thượng nguồn[sửa]

Vào tháng 5 năm 2007, nhằm xác định thượng nguồn của con sông, các nhà khoa học BrasilPeru đã làm một cuộc hành trình vất vả. Và họ thấy con sông này bắt nguồn từ vùng núi trẻ An-đét (5000 mét so với mực nước biển).

Cửa sông[sửa]

Phong cảnh[sửa]

Thế giới sinh vật sông Amazon[sửa]

Bài chi tiết: Rừng Amazon

Động vật sông Amazon[sửa]

Lưu vực sông Amazon và lòng sông là nơi sinh sống của rất nhiều loại động vật có kích thước khổng lồ như trăn Nam mỹ (Anaconda), cá trê (catfish) lớn.[1]. Hoặc cá pirarucu (Arapaima gigas) là một trong những loại cá nước ngọt lớn nhất thế giới, có chiều dài tới 3 m và nặng 200 kg [7].

Khoáng sản[sửa]

Phần lớn Rừng Amazon có núi, các loại khoáng sản có kim cương (phân bố ở Bolivia), vàng ở Brazil, và các kim loại khác.

Hình ảnh[sửa]

Thực vật sông Amazon[sửa]

Các phụ lưu chính[sửa]

Amazon có hơn 1.100 phụ lưu, 17 trong số đó có chiều dài hơn 1.500 kilômét (930 mi).[8] Một số sông nổi tiếng như:

Solimões, đoạn ở thượng nguồn sông Amazon
     

Liên kết ngoài[sửa]

Tham khảo[sửa]

  1. ^ a b c http://www.extremescience.com/AmazonRiver.htm
  2. ^ a b “Amazon River and Flooded Forests”. World Wide Fund for Nature. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2010. 
  3. ^ Guo, Rongxing (2006). Territorial Disputes and Resource Management: A Global Handbook. Nova. tr. 44. ISBN 978-1-60021-445-5. 
  4. ^ Molinier et al. http://horizon.documentation.ird.fr/exl-doc/pleins_textes/pleins_textes_6/colloques2/42687.pdf
  5. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên smith
  6. ^ Penn, James R. (2001). Rivers of the World. ABC-CLIO. tr. 8. ISBN 978-1-57607-042-0. 
  7. ^ http://en.wikipedia.org/wiki/Amazon_river
  8. ^ Tom Sterling: Der Amazonas. Time-Life Bücher 1979, 8th German Printing, p. 20