Thần khúc

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Dante tay cầm bản Thần khúc, bênh cạnh là cổng vào Địa ngục, bảy tầng Núi Luyện Ngục, và thành phố Florence, với thiên cầu Địa Đàng phía trên, trong bức họa của Michelino
Công trình Dante và Beatrice trên các ngân hàng của Lethe 1889, của họa sĩ Venezuela Cristóbal Rojas

Thần khúc (La divina commedia) là trường ca của nhà thơ Ý thời Trung cổ Dante Alighieri (1265-1321), là một trong số những nhà thơ kiệt xuất nhất của nước Ý và thế giới. Tác phẩm được sáng tác trong thời gian Dante bị trục xuất khỏi quê hương Florence, từ khoảng năm 1308 đến khi ông mất năm 1321, được viết bằng tiếng Ý gồm 100 khổ thơ với 14.226 câu thơ, được chia làm ba phần, mỗi phần bao gồm 33 khổ thơ: Địa ngục (Inferno), Luyện ngục (Purgatorio) và Thiên đường (Paradiso). Tác phẩm được xếp vào hàng những bản trường ca vĩ đại nhất của nền văn học thế giới. Sức tưởng tượng và tính ẩn dụ về hình ảnh thế giới bên kia trong thế giới quan Thiên chúa giáo là đỉnh điểm sự phát triển nhãn quan về thế giới của Nhà thờ Thiên chúa giáo Tây Âu. Tác phẩm này cũng góp phần vào sự phát triển của thổ âm vùng Tuscane, trong vở kịch được sử dụng như ngôn ngữ Ý tiêu chuẩn.

Tóm tắt nội dung[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyên tác: Commedia Divina' hay Vở Kịch Thần Diệu (tức Thần kịch, hay Thần khúc)

Tranh khắc gỗ của Gustave Doré mô tả một cảnh trong vở Thần khúc (1861–1868); khi Dante bị lạc tại Khổ 1 của phần Hỏa ngục.

Vở Thần khúc bao gồm hơn 14 ngàn vần thơ, chia làm 3 phần (tiếng Ý: cantiche) — Inferno (tức Hỏa ngục, hay Địa ngục), (Purgatory) (tức Luyện ngục), và Paradiso (Thiên đường) — mỗi phần gồm 33 khổ thơ (tiếng Ý: canti). Một khổ thơ đầu có vai trò giới thiệu toàn bộ bài thơ, và thường không được coi là thuộc về Phần 1, nâng tổng số lên 100 khổ thơ. Con số 3 có vai trò quan trọng trong bài thơ này, được thể hiện bằng độ dài của mỗi cantica. Cách gieo vần được sử dụng, terza rima, gồm những câu thơ hendecasyllabic (câu thơ có mười một âm tiết), với các dòng được sáng tác theo từng đoạn thơ ba câu (tercet) theo phương thức gieo vần aba, bcb, cdc, ded,....

Bài thơ được viết sử dụng ngôi thứ nhất: tôi, kể lại cuộc du hành của Dante qua ba thế giới bên kia, diễn ra tại thời điểm Ba ngày lễ Phục sinh thiêng liêng mùa xuân năm 1300. Nhà thơ La Mã Virgil dẫn ông đi qua Hỏa Ngục và Luyện Ngục; trong khi nàng Beatrice, người phụ nữ mà Dante coi là lý tưởng, dẫn ông qua Thiên đường. Beatrice là người phụ nữ thành Florence, người mà ông biết đến từ thời thơ ấu, và mang lòng ái mộ, theo hình mẫu tình yêu thuần khiết thời thượng truyền thống, được tô điểm trong tác phẩm La Vita Nuova của ông.

Trong cuộc tranh giành ảnh hưởng chính trị tai miền Bắc Italy giữa hai nhà Guelph và Ghibelline khi đó, Dante thuộc về phe Guelph, ủng hộ Giáo hoàng, đối lại với Hoàng đế Đế quốc La Mã thần thánh. Nhà Guelph thành Florence phân tách thành các phe phái chống đối nhau vào khoảng năm 1300: phe Guelph Trắng, chống lại quyền lực thế tục của Giáo hoàng Boniface VIII, muốn duy trì nền độc lập xứ Florence, trong khi phe Guelph Đen, ủng hộ Giáo hoàng cai trị Florence. Dante thuộc về phe Guelph trắng, bị Huân tước - Thị trưởng Cante de' Gabrielli di Gubbio bắt đi đày biệt xứ năm 1302, sau khi quân đội của Charles de Valois tiến vào thành phố do được Giáo hoàng Boniface cầu viện và vì vốn là đồng minh với phe Đen. Giáo hoàng tuyên bố nếu ông quay trở lại thành phố ông sẽ bị thiêu sống trên giàn hỏa. Cuộc lưu đày kéo dài đến hết đời Dante, ghi dấu thấy ảnh hưởng của nó lên rất nhiều phần của vở kịch: từ lời tiên đoán về sự lưu đày Dante, cho đến nhãn quan chính trị của ông, và sự đọa đày vĩnh viễn trong địa ngục các kẻ thù với ông.

Phần thứ nhất: Inferno (Hỏa ngục)[sửa | sửa mã nguồn]

Tranh khắc gỗ của Gustave Doré: Charon, người lái đò huyền thoại, chuyên chở linh hồn sang thế giới bên kia, Khổ 3, Hỏa ngục

Bản trường ca bắt đầu vào đêm trước ngày lễ Thứ sáu tốt lành, 8 tháng 4 năm 1300 năm 1300, khi đó ông đã 35 tuổi, được nửa cuộc đời theo đức tin (Thánh ca 90:10), bị lạc trong một khu rừng tăm tối (có lẽ mang ý nghĩa ẩn dụ về toan tính tự vẫn), bị ba con mãnh thú tấn công: một con sư tử, một con báo, và một con sói cái — tượng trưng cho sự cám dỗ vào vòng tội lỗi). Ông hoảng sợ, nhưng không chạy trốn được, và cũng không tìm được một "con đường đúng đắn" (nguyên tác diritta via) - cũng có thể dịch là "con đường chính đáng" - về phía sự cứu rỗi (biểu trưng bởi hình tượng mặt trời phía sau ngọn núi). Ý thức được là ông đang tự đánh mất đi bản thân mình, và ông đang rơi vào "một nơi sâu thẳm" (nguyên tác basso loco), nơi mặt trời cũng câm lặng ('l sol tace), Dante may mắn được nhà thơ cổ La Mã Virgil, do nàng Beatrice từ Thiên đường phái xuống, cứu thoát, và hai người bắt đầu cuộc hành trình về thế giới bên kia. Tại Hỏa ngục, mỗi tội nghiệt phải chịu sự trừng trị tương ứng thích đáng, ví người bói toán phải đi ngược, bằng đầu họ, khiến họ không thể nhìn thấy gì ở phía trước, như họ đã làm trong suốt cuộc đời mình.

Dante bước qua cổng Địa ngục, trên đó có chạm hàng chữ, mà dòng thứ chín, cũng là dòng cuối cùng là "Lasciate ogne speranza, voi ch'intrate", hay "Đừng hy vọng gì nữa, một khi ngươi đã bước chân vào đây"[1] Trước khi bước qua cửa Địa ngục, Dante và người dẫn đường của ông nhìn thấy những người Cơ hội, những người trong suốt cuộc đời mình không làm việc gì tốt, nhưng cũng không làm gì xấu (trong số đó, Dante nhận ra hoặc giáo hoàng Celestine V hay Pontius Pilate; khổ thơ không cho biết rõ). Lẫn vào với họ là những kẻ bị ruồng bỏ, là những thiên thần không tham gia vào Cuộc nổi loạn của các thiên thần. Những linh hồn này không ở trong, cũng không ở ngoài Địa ngục, họ phải ngụ tại bờ sông Acheron là con sông mà các linh hồn phải vượt qua trước khi tiến vào Địa ngục, chịu trừng phạt bằng việc phải đuổi theo một lá cờ, trong khi bản thân họ bị ong bắp cày đuổi theo đốt, cùng với giòi bọ và các loại côn trùng khác hút máu mủ, hình ảnh này tượng trưng cho sự châm đốt lương tâm và ghê tởm tội lỗi.

Tiếp đó Dante và Virgil dừng chân tại bên bờ sông Acheron, là nơi họ phải vượt sông trước khi tiến vào Địa ngục. Người lái đò là nhân vật huyền thoại Charon; ông ta không muốn chở Dante qua sông, vì Dante vẫn là người dương thế, nhưng nhà thơ Virgil buộc Charon phải đưa họ qua sông, bằng câu nói nổi tiếng Vuolsi così colà ove si puote (dựa vào thực tế là Dante đang thực hiện cuộc du hành trên vùng đất thiêng). Cuộc vượt sông không được kể lại, vì Dante bị ngất, và chỉ tỉnh lại khi họ đã cập bờ bên kia.

Các tầng địa ngục[sửa | sửa mã nguồn]

Virgil dắt Dante qua chín tầng Địa ngục, là các vòm ngục đồng tâm, tượng trưng cho sự gia tăng của tội lỗi và sự đồi bại, với đỉnh điểm là trung tâm của Trái Đất, nơi mà quỉ Satan phải chịu xiềng xích. Tại mỗi tầng, những kẻ phạm tội bị trừng phạt bằng một hình thức tương ứng với tội lỗi của họ: mỗi người phải chịu đau khổ vì tội lỗi lớn nhất của mình. Những người phạm tội nhưng hối cải, cầu nguyện xin tha thứ trước khi chết sẽ được vào Luyện ngục – nơi họ lao công để chuộc tội của mình – nhưng không phải xuống Địa ngục. Những người phải xuống Địa ngục là những người tìm cách biện bác cho tội lỗi của mình và không chịu hối cải. Hơn thế nữa, những người ở Địa ngục vẫn có ý thức về quá khứ và tương lai, nhưng không nhận biết được hiện tại. Trong ý nghĩ của Dante, đó là sự đùa cợt tai ác với họ, vì đến thời khắc của Ngày phán xét cuối cùng, tức ngày tận thế; những người ở Địa ngục cũng sẽ không hề hay biết.

Nhà thơ đã gặp nhiều nhân vật cổ kim danh tiếng dưới Hỏa ngục, từ những vị Giáo hoàng can tội ăn cắp đồ lễ đến những kẻ tham nhũng; những cha cố, tu sĩ dâm ô, hư hỏng; các quan chức địa phương trụy lạc v.v. Có cả Điđông, Paris của Troia, Helen của Troia, Ulysses từ thời Hy Lạp cổ đại đến đôi trai gái, Paolo MalatestaFrancesca da Rimini, phạm tội tư thông bị giết ở Ý năm 1289. Tất cả, tùy mức độ nặng nhẹ của những tội mà họ đã phạm phải trên dương thế, đều phải chịu cực hình rất ghê sợ.

Chín tầng địa ngục bao gồm:

Tầng một (U Minh)[sửa | sửa mã nguồn]

Tranh khắc của Gustave Doré Khổ 5, dòng 4: vua Minos phán xử các linh hồn.

Ở đây có những người chưa được rửa tội và những người vô thần nhưng có đức hạnh, tức những người không phạm tội lỗi gì, nhưng không nhìn nhận Jesus là chúa của mình. Họ tuy không bị đọa đày, nhưng cũng không được lên Thiên đường, vì không được gần Chúa trời, không có hy vọng được cứu rỗi, tầng địa ngục này như vậy có nhiều điểm chung với Cánh đồng Elysium trong thần thoại Hy Lạp. Nếu không được rửa tội, ("cánh cửa của đức tin," Canto IV, l.36), họ thiếu đi hy vọng vào quyền lực thần thánh của Chúa, là những gì vượt quá lý trí và tâm thức mà họ có thể chấp nhận và hiểu được. Ở đây cũng có những cánh đồng xanh tốt và một tòa lâu đài, nơi ở của những bậc hiền triết cổ đại, tức là cả Virgil, cũng như các nhà triết học Hồi giáo như AverroesAvicenna. Tại lâu đài này, Dante gặp các nhà thơ vĩ đại Homer, Horace, Ovid, Marcus Annaeus Lucanus các nhà triết học SocratesAristotle. Rất thú vị là ông cũng gặp cả Saladin tại đây (Canto IV). Ngụ ý của Dante là tất cả những người vô thần, nhưng có đức hạnh đều tề tựu tại đây, dù rằng về sau, ông gặp hai người như vậy tại Thiên đường và (Cato xứ Utica) tại Luyện ngục.

Bên ngoài tầng địa ngục thứ nhất, tất cả những người có tội phải bị xét xử bởi vua Minos, người phán quyết mỗi linh hồn xuống một tầng địa ngục sâu hơn bằng cách cuộn đuôi của mình bằng số lần tương ứng. Các tầng địa ngục sâu hơn được kết cấu dựa theo ý niệm của Aristote về đức hạnh và sự đồi bại, nên có thể chia ra làm tội không kiềm chế dục vọng, bạo lực và lừa gạt (với nhiều nhà chú giải, được biểu hiện bằng hình ảnh báo, sư tử và sói cái[2]). Tội không kiềm chế dục vọng - yếu đuối trong việc kiểm soát ham muốn và đòi hỏi tự nhiên - là tội nhẹ nhất.

Tầng hai (Nhục Dục)[sửa | sửa mã nguồn]

Những người bị chi phối bởi tham muốn bị trừng phạt ở đây: họ là những kẻ đầu tiên thực sự bị trừng phạt tại Hỏa ngục. Linh hồn của họ bị một trận bão dữ dội cuốn đi cuốn lại, không hy vọng được ngưng nghỉ. Đây là biểu tượng sức mạnh của ham muốn, nó lôi kéo con người một cách không cần thiết, không vì lý do chính đáng nào. Dante được Francesca da Rimini cho biết hoàn cảnh mà cô ta và em chồng Paolo tư thông, rồi chết bất đắc kỳ tử dưới tay chồng mình (Khổ V).

Tầng ba (Phàm Ăn)[sửa | sửa mã nguồn]

Tranh khắc của Gustave Doré, Dante gặp Ciacco

Chó ngao ba đầu Cerberus canh giữ những kẻ phàm ăn tục uống, buộc họ phải nằm trên một đống bùn ghê tởm tạo bởi những trận mưa lạnh buốt, tuyết đen bẩn thỉu và mưa đá. Đây là biểu tượng của những thứ rác rưởi mà những kẻ phàm ăn tục uống tạo ra khi họ còn sống, làm nô lệ cho thức ăn và cái dạ dày của mình. Cũng tại đây, Dante đàm thoại với một người xứ Florentine đương thời gọi là Ciacco ("con lợn" — có lẽ là biệt danh) về cuộc đấu đá diễn ra tại Florence và số phận của những nhân vật tiếng tăm xứ Florentine (Khổ 6).

Tầng bốn (Tham Lam)[sửa | sửa mã nguồn]

Những người ham muốn của cải vật chất bị trừng phạt ở đây, trong số họ là những kẻ tham lam, hoặc những người bủn xỉn, là những người tích trữ của cải, và những người hoang tàn, tiêu phá gia sản. Bị canh giữ bởi thần Plutus, mỗi nhóm người này phải đẩy một khối nặng ngược lại một khối nặng khác của một nhóm khác. Sau khi các khối nặng này đâm sầm vào nhau, thì họ phải làm lại tất cả từ đầu (Khổ 7). (Trong tranh khắc của Gustave Doré, những kẻ bị đày đọa này phải đẩy những bọc tiền lớn.)

Tầng năm (Thịnh Nộ)[sửa | sửa mã nguồn]

Trong làn nước lầy lội như đầm lầy của con sông Styx, những linh hồn giận giữ đánh nhau trên mặt nước, những kẻ rầu rĩ và uể oải nằm dưới dòng nước. Phlegyas miễn cưỡng đưa Dante và Virgil qua sông trên chiếc thuyền nhẹ của mình. Trên đường, họ gặp Filippo Argenti xán lại bắt chuyện, đây là một người thuộc phe Guelph Black, từ một gia đình có thế lực (Khổ 7 và 8).

Các phần dưới của địa ngục nằm trong các bức tường thành phố của những người chết Dis, bao quanh bởi đầm lầy tạo bởi con sông Styg. Những kẻ bị trừng phạt tại Dis là những kẻ cố tình phạm tội. Tường thành được canh gác bởi những thiên thần sa ngã. Virgil không thể nào thuyết phục họ cho ông và Dante vào thành phố được, các thần nữ FuriesMedusa dọa nạt Dante. Một thiên thần được phái xuống từ Thiên đàng bảo đảm cho họ được vào thành phố (Khổ 8 và 9).

Tầng sáu (Dị Giáo)[sửa | sửa mã nguồn]

Tại đây những người dị giáo bị giam trong những nấm mộ rực lửa. Dante đàm luận với hai người xứ Florentine tại một trong những ngôi mộ này: Farinata degli Uberti, và Cavalcante de' Cavalcanti, đều là người thuộc phe Guelph và Ghibelline; người là cha của bạn thơ của ông Guido Cavalcanti (Khổ X và XI). Những người theo trường phái triết học của Epicurus cũng bị giam cầm tại đây (Khổ X).

Tầng bảy (Bạo Lực)[sửa | sửa mã nguồn]

Tội giết người

Tầng tám (Gian Trá)[sửa | sửa mã nguồn]

Dành cho tội đạo đức giả và nịnh bợ.Tại đây, một đám linh hồn dật dờ đi mãi quanh một vòng tròn, có một con quỷ sứ chẻ họ ra làm hai mảnh từ đầu xuống dưới chân mỗi khi họ đi qua, chỉ kịp đủ thời gian cho những vết thương liền lại. Đó là những kẻ phạm tội gây chia rẽ và dị giáo, trong đó có cả nhà tiên tri Mohamet củe đạo Hồi. Hình phạt bị bổ người làm đôi giống như việc chia rẽ người khác khi còn sống.

Tầng chín (Phản Bội)[sửa | sửa mã nguồn]

Còn gọi là Caina-nơi đoạ đày những kẻ giết hại chính máu thịt của mình. Dante đặt tên tầng địa ngục này theo tên của Cain. Cain là người con trai lớn của Adam và Eva, anh trai Abel. Vì ghen ghét với Abel được Chúa trời yêu quý hơn mình, Cain đã giết em trai.

Phần thứ hai: Purgatorio (Luyện ngục)[sửa | sửa mã nguồn]

Là tên một ngọn núi nằm ở cực Nam của Trái Đất có bảy tầng, tượng trưng cho bảy trọng tội theo quan niệm của Cơ Đốc giáo. Ở đây thể hiện một không khí trầm lặng trong sự suy tư sám hối chứ không khủng khiếp, náo động như ở Địa ngục: những kẻ kiêu căng phải vác một khối đồ vật nặng trên vai khiến mặt cúi gằm xuống; còn bọn có tính xấu ghen tị, thèm khát thì mắt nhằm nghiền không trông thấy gì; lũ lười biếng cứ phải luôn chân đi đi lại lại, nói chung là những gì ngược với bản tính của chúng trước kia. Trong một cuộc trao đổi trò chuyện, Dante đã nguyền rủa "nước Ý nô lệ, nơi trú ngụ của những đau thương, không còn là bà chúa của những dân tộc mà là một nơi xấu xa". Sau khi cầu khẩn Thiên đường, Dante ngủ say. Khi tỉnh dậy nhà thơ thấy mình cùng với Virgil đứng trước lối đi vào trong Purgatorio. Hai nhà thơ lần lượt leo qua bảy tầng ở đây. Linh hồn ở đây còn phải chịu hình phạt, song đã có được niềm hy vọng. Thêm nhà thơ La Mã Statius đến với Virgil và Dante. Ba nhà thơ đồng hành lên đỉnh cao của ngọn núi, đó chính là Thiên đường với rừng cây đẹp đẽ, suối nước mát trong, hoa thơm cỏ lạ. Dante say sưa ngắm cảnh các thiên thần hiện hình. Cuối cùng Beatrice từ Thiên đường xuống trong ánh hào quang rực rỡ và hoa thơm ngào ngạt, đón Dante. Còn Virgil thì biến mất vì ông là người dị giáo.

Phần thứ ba: Paradiso (Thiên đàng)[sửa | sửa mã nguồn]

Tranh khắc gỗ của Gustave Doré, Thiên đường, Khổ 28; Dante và Beatrice thấy Thượng Đế hiển hiện như một quầng sáng chói lọi, bao quanh bởi các thiên thần.

Thiên đường gồm chín tầng, mỗi tầng dành cho một loại người đã được Thượng đế tuyển chọn. Gặp Dante, Beatrice nói cho Dante biết muốn cứu vớt linh hồn Dante, nàng phải đưa Dante đi thăm và thấy tận mắt những kẻ phạm tội. Nàng trách chàng đã phạm nhiều lỗi lầm từ khi nàng qua đời và Dante thú nhận tội lỗi của mình. Matenda đem tắm cho Dante trong con sông Lete để cho chàng quên hết mọi việc. Beatrice lần lượt dẫn Dante qua chín tầng của Thiên đường. Trong khi đi, hai người trao đổi, bàn luận với nhau về những vấn đề thần họctriết học. Họ gặp các vị anh hùng, những người tử vì đạo, các vị tiến sĩ thần học của Giáo hội v.v. Thiên đường cũng như Địa ngục chứa đựng rất nhiều chi tiết ám dụ về tình hình chính trị đương thời. Một chiếc thang vàng đưa Dante lên bầu trời đầy sao. Nhà thơ ngây ngất chiêm ngưỡng chúa GiêsuĐức mẹ đồng trinh. Beatrice trở về vị trí của nàng, còn Dante cảm thấy lâng lâng bay bổng trong tình yêu của Thượng đế.

Về mặt cấu trúc, trong khi Hỏa ngục và Luyện ngục được kết cấu xoay quanh phân loại tội lỗi, thì Thiên đường dựa trên bốn đức hạnh chính theo quan niệm Thiên chúa giáo (Thận trọng, Công bằng, Kiềm chế, Can đảm) và ba đức hạnh theo quan niệm thần học (Đức tin, Hy vọng và Tình yêu).

Ý nghĩa và ảnh hưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Thần khúc là một tác phẩm được trao một sứ mạng lịch sử đặc biệt: nó là sự tổng hợp những kiến thức triết học và nghệ thuật của văn hóa Trung cổ, đồng thời nó cũng là cầu nối liền với văn hóa thời đại Phục hưng. Dấu ấn Trung cổ trong tác phẩm rất rõ nét, từ ý thức, niềm tin tôn giáo, quan điểm triết học đến cách thể hiện tượng trưng, ngụ ý, ẩn ý (số 3 tượng trưng cho Chúa trời ở 3 ngôi "tam vị nhất thể", số 9 là tuổi của Dante và Beatrice khi gặp nhau lần đầu, 3 con thú tượng trưng cho ba tính xấu: ghen tị-kiêu ngạo-keo kiệt). Tính chất Phục hưng trong tác phẩm cũng khá nổi bật, đó là thái độ khẳng định và tôn vinh cuộc sống với những hoan lạc trần thế, niềm khát khao hiểu biết thế giới song hành với những ước mơ cuộc sống hạnh phúc, trong sạch, đẹp đẽ hiện hữu ở thế giới thực tại này chứ không phải là ở thế giới bên kia. Bằng nghệ thuật ngôn từ điêu luyện của tác giả thể hiện qua những câu thơ ngân nga như lời ca điệu nhạc, kết hợp với những yếu tố mới mẻ trong nội dung so với thời đại khiến tác phẩm được các nhà nghiên cứu sau này đánh giá cao, được coi như dấu hiệu báo trước cho sự xuất hiện của một nền văn học lớn thời đại Phục hưng sắp ra đời.

Tuy nhiên, tác phẩm này không phải luôn được coi trọng. Sau một thời gian dài được xem là một kiệt tác nghệ thuật trong suốt mấy thế kỷ [3], tác phẩm rơi vào quên lãng trong thời đại Kỷ nguyên Ánh sáng, chỉ trừ một vài trường hợp đặc biệt như khi Vittorio AlfieriAntoine de Rivarol dịch nó sang tiếng Pháp, và khi Giambattista Vico, trong các tác phẩm Scienza nuovaGiudizio su Dante, tuyên phong Dante, mà sau này người ta gọi là sự ca ngợi lãng mạn nhất, đặt ông ngang hàng với nhà thơ Homer vĩ đại[4]. Bản Thần kịch được "tái phát hiện" bởi họa sỹ, và là cây bút theo chủ nghĩa lãng mạn William Blake - người vẽ minh họa cho một số đoạn của bản trường ca. Một số tác giả như T. S. Eliot, Ezra Pound, Samuel Beckett, và James Joyce cũng lấy nguồn cảm hứng từ tác phẩm này. Nhà thơ Henry Wadsworth Longfellow là người Mỹ đầu tiên,[5] cùng với những nhà thơ hiện đại khác, có thể kể đến Seamus Heaney,[6] Robert Pinsky, John Ciardi, và W. S. Merwin, cho ra đời một số đoạn dịch lại từ tác phẩm. Ở nước Nga, ngoài bản dịch một số đoạn tam khúc nổi tiếng của Pushkin, các tác phẩm về sau của Osip Mandelstam được cho là mang dấu ấn của sự "trầm tư day dứt" của vở nhạc kịch.[7]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Có nhiều bản dịch ra tiếng Anh của dòng chữ nổi tiếng này, một số ví dụ có thể kể đến như Nguyên văn, dịch nghĩa của câu này là "Leave (lasciate) every (ogne) hope (speranza), ye (voi) that (ch') enter (intrate)."
  2. ^ Không có sự đồng thuận về việc con thú nào tượng trưng cho tội lỗi nào, một số người cho rằng thứ tự tương ứng là con sói cái, sư tử và báo, trong khi những người khác cho rằng thứ tự phải là con báo, sư tử và sói cái.
  3. ^ as Chaucer wrote in the Monk's Tale, "Redeth the grete poete of Ytaille / That highte Dant, for he kan al devyse / Fro point to point; nat o word wol he faille".
  4. ^ Erich Auerbach,Dante: Poet of the Secular World. ISBN 0-226-03205-1.
  5. ^ Irmscher, Christoph. Longfellow Redux. University of Illinois, 2008: 11. ISBN 978-0-252-03063-5.
  6. ^ see: Seamus Heaney, "Envies and Identifications: Dante and the Modern Poet." The Poet’s Dante: Twentieth-Century Responses. Ed. Peter S. Hawkins and Rachel Jacoff. New York: Farrar, 2001. 239-258.
  7. ^ Marina Glazova, Mandelstam and Dante: The Divine Comedy in Mandelstam's poetry of the 1930s Studies in East European Thought, Volume 28, Number 4, November, 1984.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]