Thục tần họ Thôi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Thục tần họ Thôi (Suk-bin Choe), hay Thục tần Thôi thị, (Hangul: 숙빈최씨, Hanja: 淑嬪崔氏) (1670 - 1718) là Hậu cung, Tần ngự của vua Túc Tông nhà Triều Tiên, và là sinh mẫu của vua Anh Tổ nhà Triều Tiên. Bà là một trường hợp đặc biệt, vượt qua xuất thân từ tầng lớp tiện dân thấp vốn bị coi là kém nhất trong xã hội phong kiến Triều Tiên trở thành Hậu cung, sinh hạ vua thứ 21 của triều đại Triều Tiên - Anh Tổ.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thục tần Thôi thị sinh năm 1670, vào ngày 6, tháng 11 âm lịch, năm Hiển Tông thứ 11. Bà là thứ nữ của Tặng Lĩnh Nghị chính Thôi Hiếu Nguyên (Choe Hyo-won (최효원, 崔孝元), 1638–1672) và Trinh Kính Phu nhân Hồng thị (1639–1673), thuộc dòng họ Hồng ở Nam Dương. Ông nội của bà là Thôi Thái Dật (Choe Tae-il (최태일, 崔泰逸)), còn cụ nội tên là Thôi Mạt Trinh (Choe Mal-jeong (최말정, 崔末貞)). Mẹ bà là con gái của Hồng Kế Nam (Hong Gye-nam (홍계남, 洪繼南)). Bà có một em trai và một chị gái.

Có rất ít ghi chép về thời gian trước khi bà trở thành Tần ngự của Túc Tông. Bà nhập cung làm Thuỷ tứ[1] cho Nhân Hiển Vương hậu (Inhyeon). Năm 1688, Chiêu nghi Trương Ngọc Trinh, một Hậu cung được hậu thuẩn bởi phái Nam Nhân, sinh hạ Vương trưởng tử Lý Quân. Túc Tông muốn tấn phong Trương Chiêu nghi lên hàng Tần (bin))[2] và lập Vương trưởng tử làm Vương thế tử. Sự phản đối quyết liệt của những quan lại thuộc phái Tây Nhân khiến Túc Tông vô cùng tức giận, Vương phi họ Mẫn bị phế truất, Hy tần họ Trương được lập làm Vương phi. Một lần, vào ngày sinh nhật của Phế phi họ Mẫn, Thôi thị bí mật cầu phúc cho Phế phi tại phòng của mình. Túc Tông đi qua nghe được, thấy rất cảm động và sủng hạnh bà.

Năm 1693, vào tháng 4 âm lịch năm Túc Tông thứ 19, dưới sự hậu thuẫn của phái Tây Nhân, bà được lập làm Thục viên (sook-won)[3] đồng thời được ban Bảo Khánh đường (寶慶堂) tại Xương Đức cung (昌德宮) làm tẩm cung sau khi sinh hạ Vương tử Vĩnh Thọ Quân, tuy nhiên Vương tử mất ít lâu sau khi sinh. Năm 1694, tức năm Túc Tông thứ 20, bà được tấn phong làm Thục nghi (sook-ui)[4] sau khi sinh hạ Vương tử thứ tư của nhà vua là Diên Nhưng Quân (sau này trở thành vua Anh Tổ nhà Triều Tiên).

Năm 1694, triều chính có nhiều biến động lớn, các quan lại phái Nam Nhân ngày càng lộng quyền, coi thường vương pháp. Trong khi đó, Vương phi họ Trương ngỗ ngược, độc đoán và hay ghen tuông với các Hậu cung, người nhà của bà tác oai tác quái, gây nhiều thị phi khiến dân chúng căm phẫn. Túc Tông đã loại bỏ các quan lại chủ chốt thuộc phái Nam nhân khỏi triều đình và đưa phái Tây nhân lên nắm quyền trở lại. Sự kiện này được gọi là Hwanguk Gapsul (갑술환국), dưới sự ủng hộ của phái Tây Nhân và Thục nghi họ Thôi, vua Túc tông đã phục vị cho Phế phi họ Mẫn. Vương phi Trương Ngọc Trinh bị phế truất và trở về ngôi vị Hy tần.

Cuối năm 1695, vào dịp sinh nhật Vương tử Diên Nhưng Quân, bà được nâng lên hàng Quý nhân (gwi-in)[5]. Năm 1698, bà tiếp tục sinh hạ một Vương tử, tuy nhiên Vương tử cũng mất ít lâu sau khi sinh. Năm 1699, trước sự hậu thuẫn của phái Tây nhân và Vương phi In Hyeon nhằm nâng cao thân phận mẫu thân của Diên Nhưng Quân, bà lại được tấn phong lên hàng Tần (bin)[2] với hiệu là Thục (sook bin), gọi là Thục tần.

Năm 1701, Vương phi họ Mẫn qua đời một cách đột ngột, có thuyết cho rằng do bị bệnh mãn tính từ những ngày bị lưu đày. Nhà vua ban thụy hiệu cho Vương phi họ Mẫn là Nhân Hiển Vương hậu (仁顯王后). Khi đó phái Tây Nhân đã cáo buộc rằng Trương Hy tần cùng anh trai mình thuê một thầy cúng trù ếm cho Vương phi bằng một hình nhân bị găm mũi tên (không được ghi chép cụ thể chính sử Triều Tiên chỉ chú thích sự việc được ghi lại trong cuốn "Nhân Hiển Vương hậu truyện" do một cung nữ thân cận của Vương hậu Nhân Hiển viết còn lưu truyền tới ngày nay). Không chỉ có vậy, bản thân Túc Tông được cho là đã bắt gặp thầy cúng trong tẩm cung của Hy tần và các cuộc điều tra còn khẳng định Trương thị và anh trai đã thông đồng với nhà Thanh khi tiết lộ nhiều tài liệu quân sự tối mật nhằm nhận được sự đồng thuận cho việc sắc phong Thế tử của Vương trưởng tử Lý Quân. Túc Tông đã ban chết cho Trương Hy tần với tội danh phản quốc và mưu hại Vương phi. Ngày 10 tháng 10 năm 1701, Trương Hy tần bị xử tử bằng độc dược, thọ 42 tuổi, sau khi chết vẫn được giữ nguyên tước hiệu nhằm đảm bảo địa vị của Thế tử. Tuy nhiên, lăng mộ của Trương Hy tần không được ban tên như theo điển lệ của Vương thất Triều Tiên, ngay cả khi con trai của Hy tần là Thế tử Lý Quân lên ngôi, tức vua vua Cảnh Tông nhà Triều Tiên truy phong cho sinh mẫu làm Đại Tần Cung, lăng mộ của Trương Hy tần cũng chỉ được gọi với cái tên Đại tần mộ.

Năm 1702, lấy lí do ngôi vị Vương phi không thể bỏ trống, các quan lại dâng tấu xin Túc Tông lựa chọn một Hậu cung sắc phong làm Vương phi. Khi đó, Túc Tông đang có hai Hậu cung thuộc hàng Chính nhất phẩm là Thục tần họ Thôi và Minh tần họ Phác, Minh tần có xuất thân từ tầng lớp quý tộc, đã sinh hạ Vương tử Diên Linh Quân cho nhà vua vào năm 1699 được cho là ứng viên sáng giá nhất nhất cho ngôi vị Trung Cung điện. Cuối năm 1703, vua Túc Tông ban chiếu chỉ tổ chức Quốc hôn với tiểu thư họ Kim ở Khánh Châu, sắc phong làm Vương phi, ra chiếu chỉ cấm các Hậu cung từ nay về sau không được lên làm Vương phi nhằm ngăn chặn những âm mưu của các Cung tần nhằm đoạt ngôi Trung điện, đồng thời ban chỉ Thế tử Lý Quân nhận Vương phi Nhân Nguyên làm dưỡng mẫu.

Năm 1703, Con trai của Thục tần, Vương tử Diên Nhưng Quân được Vương phi họ Kim yêu mến và nhận làm dưỡng tử. Vương phi họ Kim đóng vai trò quan trọng trong việc Diên Nhưng Quân trở thành Vương thế đệ cũng như bảo vệ ông trước tình hình chính trị hỗn loạn dưới triều Cảnh Tông.

Năm 1704, Diên Nhưng Quân thành thân với Đạt Thành Quận phu nhân họ Từ ở Đạt Thành, tức Trinh Thánh Vương hậu sau này. Túc Tông tổ chức hôn lễ cho Vương tử vô cùng xa hoa khiến nhiều triều thần dị nghị. Cùng năm, Thục tần được Túc Tông ban tặng Lê Hiện cung (이현궁, 梨峴宮), một hành cung ở ngoại ô Hán Thành. Năm 1716, Thục tần lâm bệnh nặng và được phép rời khỏi Xương Đức cung, bà chuyển về Lê Hiện cung (이현궁, 梨峴宮) sinh sống đến cuối đời. Bà qua đời năm 1718 vào ngày 9, tháng 3 năm Túc Tông thứ 44, thọ 48 tuổi, được chôn cất tại Chiêu Ninh viên (昭寧園). Cũng trong năm đó, Túc Tông ban chiếu chỉ cho Vương thế tử Lý Quân giám quốc, coi sóc các công việc triều chính.

Năm 1724, sau khi vua Cảnh Tông qua đời, Vương thế đệ Lý Khâm (con trai Thục Tần) kế vị trở thành vị vua thứ 21 của triều đại Triều Tiên - Anh Tổ. Để tận hiếu với mẫu thân, vua Anh Tổ đã khắc trên bia mộ những câu chuyện chính ông viết về bà qua ký ức và đặt bốn trụ đá đặt ở bốn góc mộ đồng thời xây dựng Dục Khánh miếu trong cung Xương Đức để thờ phụng bà. Năm 1725, ông truy tặng cho mẫu thân thụy hiệu Huy Đức (휘덕, 徽德). Năm 1744 ông tiếp tục truy tôn cho Thục tần làm Hòa Kính Huy Đức An Thuần Tuy Phúc Thục tần (和敬徽德安純綏福淑嬪) và truy tặng cho bà miếu hiệu Dục Tường Cung (Yuk-Sang Gung (육상궁, 毓祥宮)).

Tổ phụ[sửa | sửa mã nguồn]

Hậu duệ[sửa | sửa mã nguồn]

Thôi Thục tần sinh cho vua Túc Tông 3 con trai:

  • Vương tử Vĩnh Thọ (1693), mất sớm.
  • Diên Nhưng quân (1694–1776), sau này trở thành vua Anh Tổ.
  • Con trai mất sớm (1698).

Trong văn hoá đại chúng[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Thuỷ tứ (musuri) là tên chỉ các cung nữ làm việc lao động chân tay dưới thời Cao Lynhà Triều Tiên.
  2. ^ a ă Chính nhất phẩm trong Nội mệnh phụ
  3. ^ Tòng tứ phẩm trong Nội mệnh phụ
  4. ^ Tòng nhị phẩm trong Nội mệnh phụ
  5. ^ Tòng nhất phẩm trong Nội mệnh phụ