Han Hyo-joo

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Han Hyo-joo.jpg
Han Hyo-joo
Sinh 22 tháng 2, 1987 (27 tuổi)
Cheongju, Chungbuk, Hàn Quốc
Công việc diễn viên, người mẫu
Năm hoạt động 2005–nay
Doanh nghiệp

BH Entertainment (Hàn Quốc)

FlaMme (Nhật Bản)
Tín ngưỡng Công giáo
Han Hyo-joo
Hangul 한효주
Hanja (Hán tự) 韓孝珠
Hán-Việt Hàn Hiếu Châu
Romaja quốc ngữ Han Hyoju
McCune-Reischauer Han Hyo-ju

Han Hyo Joo (sinh ngày 22 tháng 2 năm 1987) là một nữ diễn viên kiêm người mẫu Hàn Quốc.Vai diễn đáng chú ý nhất của là Go Eun Sung trong bộ phim truyền hình "Người thừa kế sáng giá" và Dong Yi trong bộ phim cùng tên (2010). Năm 2013, cô đạt giải thưởng Nữ diễn viên xuất sắc nhất tại 34th Blue Dragon Film Awards với phim điện ảnh Cold Eyes.

Cuộc đời[sửa | sửa mã nguồn]

Han Hyo-joo sinh ra tại Cheongju, tỉnh Bắc Chungcheong. Mẹ cô từng là giáo viên tiểu học trước khi trở thành thanh tra trường công. Cha cô từng là sĩ quan không quân. Lúc bé, Han Hyo-joo giỏi thể thao, đặc biệt là điền kinh. Năm hai trung học, cô chuyển đến Seoul và theo học trường Trung học Bulgok, bất chấp sự phản đối gay gắt của cha. Sau đó cô học trường Đại học Dongguk - Khoa Sân khấu điện ảnh.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Han Hyo Joo được phát hiện qua một cuộc thi sắc đẹp thiếu niên, tổ chức bởi tập đoàn thực phẩm Binggrae vào năm 2003. Cô bắt đầu sự nghiệp diễn xuất với phim sitcom Nonstop 5 và phim hài My Boss, My Teacher.

Han Hyo Joo được xem như "bảo bối" mới của điện ảnh xứ Hàn kể từ sau bộ phim truyền hình Điệu van-xơ mùa xuân, phim thứ tư và cũng là cuối cùng trong loạt phim tình yêu bốn mùa của đạo diễn nổi tiếng Yoon Seok Ho.

Năm 2006, đạo diễn Lee Yoon-ki đưa Han Hyo Joo vào Ad-lib Night. Sau đó, cô tham gia hai dự án phim truyền hình thành công: phim truyền hình hàng ngày của KBS1 Like Land and Sky (2007) cùng Park Hae-jin, và phim cổ trang Huyền thoại Iljimae (2008) cùng Lee Joon Ki. Sau đó, cô tham gia Ride Away, ra mắt tại Jeonju International Film Festival năm 2008.

Han Hyo Joo tham gia bộ phim hợp tác Hàn Quốc - Nhật Bản Người đưa thư đến từ thiên đường năm 2008 cùng ca sĩ Jaejoong của TVXQ (bây giờ là JYJ). Sau nhiều trì hoãn, phim ra rạp vào cuối năm 2009, phát sóng trên TV năm 2010.

Sự nghiệp của cô thăng hoa qua bộ phim Người thừa kế sáng giá bên cạnh Lee Seung Gi. Bộ phim gây tiếng vang vào năm 2009, đạt rating cao nhất lên đến 47.1%. Chính dự án này đã đánh dấu sự thành công của Han Hyo Joo, đặc biệt là trong lĩnh vực quảng cáo và truyền thông.

Cùng năm đó, Han Hyo Joo tham gia phim ca nhạc Soul Special cùng K.Will. Phim được trình chiếu với 12 phần, mỗi phần năm phút trên Internet; và kênh cáp KBS Joy phát sóng trong bốn phần.

Với dự án phim kỉ niệm 49 năm MBC Dong Yi, Han Hyo Joo đạt nhiều giải thưởng diễn xuất lớn với vai diễn Choi Suk-bin. Từ đây, cô được coi như một ngôi sao Hallyu.

2011부산국제영화제 - 소지섭, 한효주, 송일곤감독.jpg

Sau đó cô vào vai một điện thoại viên khiếm thị bên cạnh So Ji Sub trong vai cựu vận động viên đấm bốc trong bộ phim Always, đạo diễn Song Il-gon. Bộ phim được trình chiếu mở màn tại 2011 Busan International Film Festival. Han Hyo Joo sau đó tham gia lồng tiếng bô phim My Back Page, phiên bản cho người khiếm thị, khiếm thính.

Han Hyo Joo đóng vai hoàng hậu bên cạnh vua Gwanghae (Lee Byung-hun đóng) trong bom tấn cổ trang năm 2012 Masquerade, với doanh thu cao nhất trong các phim điện ảnh Hàn Quốc trong lịch sử. Cô tiếp tục với Love 911, trong câu chuyện tình yêu giữa một nữ bác sĩ và một lính cứu hoả (Go Soo đóng).

Han Hyo Joo tiếp tục với màn ảnh rộng cùng Sol Kyung-guJung Woo-sung trong phim hành động Cold Eyes, một trong những phim thành công nhất năm 2013. Cô được ngợi khen về tài diễn xuất, đạt giải thưởng Nữ diễn viên xuất sắc nhất tại Blue Dragon Film AwardsBuil Film Awards.

Năm 2014, cô và Go Soo lại xuất hiện cùng nhau trong Myohyangsangwan (Cảnh từ núi Myohyang). Bộ phim nói về cuộc hẹn hò của một hoạ sĩ Bắc Triều Tiên và một nữ bồi bàn Nam Hàn.

Sau đó cô tấn công thị trường quốc tế với bộ phim Nhật Bản đầu tiên của mình, Isshin Inudo's Miracle: Debikuro-kun no Koi to Maho ("Miracle Devil Claus' Love and Magic"). Quay vào mùa Giáng sinh, phim là câu chuyện tình yêu của một nhân viên hiệu sách (Masaki Aiba của nhóp nhạc nam J-pop Arashi) khi gặp gỡ ba người phụ nữ.

Han Hyo Joo đang được mời đóng phim âm nhạc C'est si bon, tái hiện những thăng trầm của nhóm nhạc đồng quê Twin Folio, hoạt động từ những năm 1960 đến những năm 1980. Nổi tiếng bởi những màn trình diễn trực tiếp, C'est si bon là tên của một sân khấu hoà nhạc tại Mugyo-dong vào những năm 1970, nơi Twin Folio khởi nghiệp; Han Hyo Joo vào vai nàng thơ của nhóm.

Ồn ào[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 11 năm 2013, cơ quan Công tố Seoul buộc tội quản lý cũ của Han Hyo Joo tại công ty quản lý Fantom Entertainment với tội danh vu khống. Theo cảnh sát, quản lý cũ họ Lee đã gửi 16 bức ảnh của Han Hyo Joo và bạn trai cũ của cô ấy từ máy ảnh kĩ thuật số của Hyo Joo đến điện thoại của ông ta một cách trái phép. Sau đó Lee đe doạ sẽ phát tán ảnh trừ khi hắn và hai đồng phạm nhận được 400 triệu won. Cha của Han Hyo Joo đưa cho chúng 10 triệu won. Công ty quản lý của Han Hyo Joo BH Entertainment khẳng định cô không liên quan đến bất kì hành động sai trái nào và đe doạ sẽ dùng các biện pháp mạnh để xử lý vụ tống tiền.

Các phim tham gia[sửa | sửa mã nguồn]

Han Hyo-joo in September 2011

Phim truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tựa phim Vai diễn Kênh
2005 Nonstop 5 Han Hyo-joo MBC
2006 Spring Waltz Seo/Park Eun-young KBS2
2007 Like Land and Sky Suk Ji-soo KBS1
2008 Huyền thoại Iljimae Eun-chae SBS
2009 Người thừa kế sáng giá Go Eun-sung SBS
Soul Special Jin Mi-ah KBS Joy
2010 Dong Yi Choi Dong-yi (later Choi Suk-bin) MBC

Phim điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tựa phim Vai diễn Ghi chú
2006 My Boss, My Teacher Yoo Mi-jung
Ad-lib Night Bo-kyung
2008 Ride Away Im Ha-jung
My Dear Enemy Woman at the bus stop/
Voice on the phone
cameo
2009 Heaven's Postman Jo Hana / Saki telecinema
(also aired on SBS)
2011 Always Ha Jeong-hwa
2012 Masquerade Queen Consort
Love 911 Mi-soo
2013 Cold Eyes Ha Yoon-ju
2014 Miracle Devil Claus' Love and Magic So-yeon Japanese film
Myohyangsangwan Oh Yeong-ran short film
C'est si bon Min Ja-young (20s)

Video ca nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Bài hát Nghệ sĩ
2004 "I Love You" Simply Sunday
2005 "You Just Being in This World" Position
"Paris" Epik High
2006 "Farewell is..." U
"Tree" Kwon Jin-won
2009 "They Are Men" Lee Woo-sang
"Because I Couldn't Say that I Love You" K.Will
"Are You Serious?" Rumble Fish
2010 "Don't You Know" Han Hyo-joo feat. No Reply
2012 "I Choose to Love You" Hyorin
"I Love You" Han Hyo-joo feat. Sweet Sorrow
"Hide and Seek" Han Hyo-joo feat. Broccoli, You Too?

Chương trình tạp kĩ[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Chương trình Kênh Ghi chú
2005 Love Letter SBS Guest - Episodes 26-27, 30-31, 34-35
X-Man SBS Guest - Episodes 110-111, 114-115
2005-2006 Popular Song SBS MC
2006 Come To Play MBC Guest - Episode 82
2007 Golden Fishery MBC Guest - Episode 27
Are You Ready KBS2 Guest - Episode 1
Ya Shim Man Man SBS Guest - Episode 204
2008 Park Kyung-lim's
Wonderful Outing
MBC Guest - Episode 24
Star N The City XTM Road Trip to USA
2009 Ya Shim Man Man SBS Guest - Brilliant Legacy Special
Girls on Top Season 2 SBS MTV Guest
Sunday Sunday Night - Danbi MBC Guest - Episode 3
2010 You Hee-yeol's Sketchbook KBS2 Guest - Episode 71
2012 Running Man SBS Guest - Episodes 123-124
Cultwo Show SBS Guest - Episode 828
2013 Running Man SBS Guest - Episodes 151-152

Discography[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Bài hát Nghệ sĩ Album
2005 "It's the First Time" Han Hyo-joo Nonstop 5 OST
2008 "Ride Away" Han Hyo-joo Ride Away OST
2009 "Sudden Burst of Tears" Gan-D feat. Han Hyo-joo Soul Special OST
"바람이 불어... 널 이별해 (Prologue)" Narration by Han Hyo-joo Love Tonic
2010 "Oh Seoul" My-Q feat. Han Hyo-joo For This, I Was Born
"Don't You Know" No Reply feat. Han Hyo-joo Grand Mint Festival 2010[1]
2011 "You" Browneyed Soul feat. Han Hyo-joo Brown Eyed Soul
"8 A.M." My-Q feat. Han Hyo-joo Ready For The World
"Alone in Love" Lee Seung-gi feat. Ra.D
(narration by Han Hyo-joo)
2012 "I Love You" Han Hyo-joo feat. Sweet Sorrow LG Su:m37 5th Anniversary CF song
"Hide and Seek"[2] Han Hyo-joo feat. Broccoli, You Too?

Quảng cáo[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Sản phẩm Ghi chú
2005 Anti-Smoking campaign
2005 Hangame
2005 Pizza Hut with Lee Yeon-hee
2005-2006 Crencia with Jo In-sung
2005-2006 CYOU Soju
2006 Ensure Traffic Order campaign
2006 Green Time Green Tea with Ju Ji-hoon
2006-2007 Enprani Cosmetics
2008 Maxim Coffee with Jo In-sung
2008 Korean Air
2008-2011 Samchuly
2009 Save the Penguins campaign
2009 Sweetest Love campaign by Vogue Korea
2009 Nongshim Natural Snacks
2009 Cello
2009 Kia Soul
2009 Baskin-Robbins
2009 Samsung Camera VLUU series
2009 Lacoste
2009-2010 Jambangee Jeans with Chung Lim (2009)
and 2AM (2010)
2009-2014 LG Su:m37
2009-2014 Viki Numerous
2010 Grand Mint Festival Lady
2010 Yoplait Yogurt
2010-2011 Mr. Pizza
2010-2012 Lotte Card
2010-2012 Samsung NX series
2011 HEAD Sports with Park Yu-hwan
2011 LOVCAT Paris
2011 LOVCAT Bijoux
2011 Xylitol
2011-2012 Samsung Mirror Pop MV800 with Lee Je-hoon
2012 Korea Cable TV Association (KCTA) - Digital Cable TV with Yang Joon-hyuk
and Choi Hyo-jong
2012 Oksusu Corn Silk Tea
2012-2014 Black Yak with Jo In-sung
2013-2014 Acuvue with Song Joong-ki
2013 Daum Communications - 'Art and Shake' application
2013 Good Downloader campaign
2014 Givenchy eyewear
2014 Hankook Tire
2014 SSG.com with Lee Byung-hun
and Ryu Seung-ryong

Giải thưởng và đề cử[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Giải thưởng[3] Hạng mục Tác phẩm Kết quả
2003 9th Miss Binggrae Smile Pageant Grand Prize N/A Đoạt giải
2006 26th Korean Association of Film Critics Awards Best New Actress Ad-lib Night Đoạt giải
KBS Drama Awards Best New Actress Spring Waltz Đề cử
2007 20th Singapore International Film Festival[4] Best Actress Ad-lib Night Đoạt giải
24th Korea Best Dressed Swan Awards Best Dressed N/A Đoạt giải
KBS Drama Awards Best Couple Award with Park Hae-jin Like Land and Sky Đoạt giải
Popularity Award Đoạt giải
Best New Actress Đề cử
Excellence Award, Actress in a Daily Drama Đề cử
2008 1st Korea Jewelry Awards Pearl Award N/A Đoạt giải
SBS Drama Awards New Star Award Iljimae Đoạt giải
2009 45th Baeksang Arts Awards Most Popular Actress (TV) Đề cử
4th Andre Kim Best Star Awards Star Award N/A Đoạt giải
3rd Mnet 20's Choice Awards Hot Female Drama Star Brilliant Legacy Đoạt giải
SBS Drama Awards Best Couple Award with Lee Seung-gi Đoạt giải
Top 10 Stars Đoạt giải
Excellence Award, Actress in a Special Planning Drama Đoạt giải
2010 46th Baeksang Arts Awards Best Actress (TV) Đề cử
5th Seoul International Drama Awards Outstanding Korean Actress Đoạt giải
3rd Korea Drama Awards Best Actress Dong Yi Đoạt giải
MBC Drama Awards Popularity Award Đoạt giải
Top Excellence Award, Actress Đề cử
Daesang (Grand Prize) Đoạt giải
2011 1st Hong Kong Cable TV Awards[5] Best Actress Đoạt giải
47th Baeksang Arts Awards Best Actress (TV) Đoạt giải
45th Taxpayers' Day
(given by Ministry of Strategy and Finance)[6]
Presidential Commendation as Honest Taxpayer N/A Đoạt giải
2012 CETV Asia's Top 10 Popular Star Awards[7] Hallyu Star Prize Đoạt giải
2013 49th Baeksang Arts Awards Best Actress Love 911 Đề cử
22nd Buil Film Awards Best Actress Cold Eyes Đoạt giải
6th Style Icon Awards Style Icon N/A Đề cử
33rd Korean Association of Film Critics Awards Best Actress Cold Eyes Đề cử
34th Blue Dragon Film Awards Best Actress Đoạt giải
2014 8th Asian Film Awards Best Actress Đề cử

Link liên kết[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]