The Music Trend

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
The Music Trend
The Music Trend logo.jpg
Tên khác Inkigayo
Thể loại Âm nhạc, giải trí
Dẫn chương trình Hwang Kwang-hee
Lee Yu-bi
Suho
Baekhyun
Quốc gia  Hàn Quốc
Ngôn ngữ Tiếng Hàn
Số tập 760 (đến ngày 02 tháng 3 năm 2014)
Sản xuất
Địa điểm SBS Open Hall
Thời lượng 70 phút
Trình chiếu
Kênh trình chiếu SBS (trực tiếp)
SBS MTV (tape delay)
SBS funE (tape delay)
ONE TV ASIA (Đông Nam Á)
Định dạng hình ảnh 1080i
Định dạng âm thanh Stereo
Phát sóng 15 tháng 12, 1991 – 17 tháng 10, 1993
1 tháng 2, 1998 – nay
Liên kết ngoài
Trang mạng chính thức
Tên tiếng Hàn
Hangul SBS 인기가요
Hanja (Hán tự) SBS 人氣歌謠
Romaja quốc ngữ SBS Ingi Gayo
McCune-Reischauer SBS In'gi Kayo

The Music Trend (tiếng Triều Tiên: SBS 인기가요; phiên âm Inkigayo, tên cũ Popular Song) là một chương trình âm nhạc của Hàn Quốc do SBS phát sóng trực tiếp vào 3:30 chiều các ngày Chủ nhật. Chương trình có sự tham gia biểu diễn của những nghệ sĩ mới và nổi tiếng nhất. Từ ngày 16 tháng 12 năm 2012, người dẫn chương trình của The Music Trend bao gồm IU, Hwang Kwang-heeLee Hyun Woo.[1] Chương trình được phát sóng từ SBS Open Hall tại Deungchon-dong, Gangseo-gu, Seoul.[2]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

The Music Trend được phát sóng lần đầu tiên với tên gọi SBS Popular Song vào năm 1991 dưới dạng một chương trình bảng xếp hạng, nhưng đã bị hủy bỏ vào mùa thu năm 1993. Chương trình sau đó được phục hồi vào năm 1998 vẫn với tên gọi và format cũ. Năm 2003, hệ thống bảng xếp hạng được thay thể bởi Take 7 với 7 nghệ sĩ nổi tiếng nhất trong tuần và người chiến thắng sẽ nhận được giải thưởng Mutizen Song.

Mùa xuân năm 2007, chương trình chuyển sang phát sóng trực tiếp với mục đính tăng lượng người xem, đồng thời đổi tên tiếng Anh của mình thành The Music Trend. Ngày 2 tháng 11 năm 2008, chương trình đổi thời gian phát sóng từ 3:20 đến 4:10 chiều các ngày Chủ nhật cũng nhằm tăng lượng người xem. Mùa xuân năm 2010, chương trình tăng thời lượng lên 70 phút và bắt đầu từ 3:50 chiều các ngày Chủ nhật.

Ngày 10 tháng 7 năm 2012, SBS thông báo rằng hệ thống Take 7 và giải thưởng Mutizen Song sẽ bị hủy bỏ bắt đầu từ ngày 15 tháng 7 năm 2012.[3]

Ngày 3 tháng 3 năm 2013, chương trình công bố sự quay trở lại của hệ thông bảng xếp hạng với Inkigayo Chart bắt đầu từ ngày 17 tháng 3 năm 2013. Bảng xếp hạng mới có sự kết hợp với bảng xếp hạng Gaon của Hiệp hội Ngành công nghiệp Âm nhạc Hàn Quốc.[4]

Nội dung[sửa | sửa mã nguồn]

Super Rookie[sửa | sửa mã nguồn]

Hàng tuần, một nghệ sĩ mới sẽ biểu diễn trực tiếp trên sân khấu. Đến cuối tháng, một "Super Rookie" sẽ được bình chọn thông qua trang chủ của The Music Trend.[5] Hoạt động này dừng lại vào cuối năm 2010.

Bảng xếp hạng âm nhạc trực tuyến[sửa | sửa mã nguồn]

Có tên cũ là Mobile Ranking, bảng xếp hạng âm nhạc trực tuyến (Digital Music Charts) cho thấy mức độ nổi tiếng của các bài hát thông qua số lượt tải về trên điện thoại cũng như trên các trang web âm nhạc. Hàng tuần, bảng xếp hạng này được công bố bởi một người dẫn chương trình khách mời. Hoạt động này kết thúc vào giữa năm 2009.

Các bài hát chiến dịch[sửa | sửa mã nguồn]

Nhiều nghệ sĩ đã thể hiện những bài hát chiến dịch nhằm tăng nhận thức về một vấn đề nào đó, chẳng hạn như lái xe an toàn, uống sữa, vấn đề vi phạm bản quyền cũng như nhiều sự kiện khác.

Take 7[sửa | sửa mã nguồn]

Take 7 là nội dung chính của The Music Trend. Hàng tuần, 7 bài hát nổi tiếng nhất sẽ được biểu diễn. Cuối chương trình, giải thưởng Mutizen Song ("Mutizen" là sự kết hợp của "music" (âm nhạc) và "netizen" (cư dân mạng)) sẽ được trao cho bài hát chiến thắng.[7] Hệ thống này đã thay thế bảng xếp hạng đếm ngược được sử dụng trong hầu hết các chương trình âm nhạc. Một bài hát chỉ có thể chiến thắng 3 lần. Hệ thống này bị hủy bỏ vào ngày 10 tháng 7 năm 2012.[3]

Quán quân[sửa | sửa mã nguồn]

1998[sửa | sửa mã nguồn]
1999[sửa | sửa mã nguồn]
2000[sửa | sửa mã nguồn]
2001[sửa | sửa mã nguồn]
2002[sửa | sửa mã nguồn]
2003[sửa | sửa mã nguồn]

Mutizen Song[sửa | sửa mã nguồn]

2003[sửa | sửa mã nguồn]
2004[sửa | sửa mã nguồn]
2005[sửa | sửa mã nguồn]
2006[sửa | sửa mã nguồn]
2007[sửa | sửa mã nguồn]
2008[sửa | sửa mã nguồn]
2009[sửa | sửa mã nguồn]
2010[sửa | sửa mã nguồn]
2011[sửa | sửa mã nguồn]
2012[sửa | sửa mã nguồn]

Triple Crown[sửa | sửa mã nguồn]

Triple Crown là một bài hát đã nhận được giải thưởng Mutizen Song (뮤티즌송) 3 lần. Sau đó, bài hát không còn nằm trong Take 7.

Inkigayo Q[sửa | sửa mã nguồn]

Người xem có thể đưa ra các câu hỏi một nghệ sĩ nhất định thông qua một ứng dụng trên di động của SBS tên là Soty. Trong cuộc phỏng vấn, những câu hỏi được chọn sẽ được sử dụng và người gửi sẽ nhận được phần thưởng. Hoạt động này bắt đầu từ ngày 17 tháng 2 năm 2013.

Inkigayo Showcase[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là một sân khấu dành cho các nghệ sĩ indie và nghệ sĩ mới ít có cơ hội xuất hiện trên truyền hình.[13] Hoạt động này bắt đầu cùng với Inkigayo Chart vào ngày 17 tháng 3 năm 2013.

Inkigayo Chart[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi hủy bỏ hệ thống Take 7 vào tháng 7 năm 2012, một bảng xếp hạng mới được sử dụng kể từ ngày 17 tháng 3 năm 2013, bao gồm 50 bài hát để người xem bình chọn thông qua ứng dụng Soty, kết hợp với hai bảng xếp hạng nhạc số và album cũng như bảng xếp hạng Gaon của Hiệp hội Ngành công nghiệp Âm nhạc Hàn Quốc.[14]

Điểm số được xác định dựa trên Digital Sales Points từ bảng xếp hạng Gaon (60%), SNS Points từ lượt xem trên YouTube và số lần mention trên Twitter (35%) và Advance Viewers Vote Points từ số lượt bình chọn thông qua ứng dụng Soty (5%). Top 50 bài hát của bảng xếp hạng sẽ xuất hiện trong chương trình. 3 nghệ sĩ dẫn đầu sẽ trở thành ứng cử viên quán quân, sau đó số lượt bình chọn trực tiếp của người xem thông qua tin nhắn và ứng dụng M& TV talk sẽ được cộng vào để xác định người chiến thắng.[13][15]

Giai đoạn Cách tính điểm
17 tháng 3, 2013 Digital Single Sales (50%), SNS (30%), Advance Viewer Votes (20%), Live Votes (20%) (chỉ dành cho ứng cử viên quán quân)
24 tháng 3, 2013 - nay Digital Single Sales (60%), SNS (35%), Advance Viewer Votes (5%), Live Votes (10%) (chỉ dành cho ứng cử viên quán quân)

Quán quân[sửa | sửa mã nguồn]

2013[sửa | sửa mã nguồn]
2014[sửa | sửa mã nguồn]

Người dẫn chương trình[sửa | sửa mã nguồn]