Jung Yong-hwa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đây là một tên người Triều Tiên; họ tên được viết theo thứ tự Á Đông (họ trước tên sau): họ là Jung.
Jung Yong-hwa
Jung Yong Hwa at Insadong in 2012.jpg
Jung Yong-hwa in 2012
Thông tin nghệ sĩ
Tên khai sinh Jung Yong-hwa
Nghệ danh Yongyong, Yongyongie, Yong Choding, Bolmae Jung, Towel Guy, Milk Man, Ace Yong
Sinh 22 tháng 6, 1989 (25 tuổi)
Yeoksam-dong, Seoul, Hàn Quốc
Nguyên quán Busan, Hàn Quốc
Nghề nghiệp Nhạc sĩ, Guitar, Rapper, Nhà sản xuất, Diễn viên, MC, Người mẫu
Thể loại Rock, R&B, Pop
Nhạc cụ Hát chính, Guitar, Clarinet, Piano, Drums, Người thu âm nhạc, Tổng hợp, Beatbox
Năm 2009–nay
Hãng đĩa FNC Entertainment
Hợp tác CNBLUE
Website www.fncent.com
Tên tiếng Hàn
Hangul 정용화
Hanja (Hán tự)
Romaja quốc ngữ Jeong Yong-hwa
McCune-Reischauer Chŏng Yonghwa
Hangugeo-Chosonmal.png
Bài viết này có chứa các ký tự Triều Tiên. Nếu không được hỗ trợ hiển thị đúng, bạn có thể sẽ nhìn thấy các ký hiệu chấm hỏi, ô vuông, hoặc ký hiệu lạ khác thay vì các ký tự Chosŏn'gŭl hay Hanja.

Jung Yong-hwa (Hangul:정용화, phát âm [tɕəːŋ joŋ hwa], sinh ngày 22 tháng 6 năm 1989) là một nhạc sĩ, ca sĩ, nhà sản xuất và diễn viên nổi tiếng người Hàn Quốc. Tên của anh có thể được viết là Yonghwa hoặc Yong Hwa. Jung ra mắt lần đầu tiên tại Hàn bằng vai diễn "Kang Shin Woo" trong bộ phim Hàn Quốc You're Beatiful được phát sóng vào ngày 07 tháng 10 năm 2009 và tiếp tục thủ vai nam chính "Lee Shin" trong bộ phim truyền hình năm 2011 Heartstrings. Jung hiện là nhóm trưởng, giọng hát và ghi-ta chính của của ban nhạc rock CNBLUE. Anh được xem là một trong những ca sĩ thần tượng có diễn xuất tốt nhất Hàn Quốc.

Cuộc sống và sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Cuộc sống ban đầu và trước khi ra mắt[sửa | sửa mã nguồn]

Jung Yong-hwa sinh ngày 22 tháng 6 năm 1989, tại Seoul, Hàn Quốc.[1][2] Gia đình Jung bao gồm cha mẹ và một người anh hơn anh 4 tuổi. Anh chuyển đến Busan vào năm 1991 và sống ở đó cho đến trung học, nơi anh lần đầu tiên bắt đầu sáng tác âm nhạc.[1] Sau khi tham dự kỳ thi vào đại học của mình, anh chuyển về Seoul, nơi anh tham gia FNC Music. Trong năm 2009, Jung ở lại Nhật Bản để nghiên cứu âm nhạc với những người bạn cùng nhóm của mình.[3] Trong khi ở đó, họ đã biểu diễn đường phố và phát hành album độc lập.[3]

Trước khi gia nhập công ty và ra mắt trong ngành công nghiệp giải trí, anh đã được biết đến nhờ vẻ ngoài ưa nhìn trên internet với tư cách là một "Ulzzang". Nổi tiếng từ bức ảnh chụp ở khu trượt tuyết do một netizen lấy từ blog cá nhân của anh và đăng tải lên Ulzzang cafe,[4] năm 2008, anh trở thành ànở thành viên thế hệ đầu tiên của BEST NINE SCHOOL ULZZANG (nghĩa là #1 ulzzang), thành viên khác của CNBLUE Lee Jong-hyun, cùng với Jaehyo của Block B, Lee Joon của MBLAQ, và Himchan của B.A.P, lần lượt là các thành viên thế hệ thứ ba, tư, năm.[5][6][7] Anh đã được phát hiện bởi quản lí công ty FCN, người tình cờ nhìn thấy hình ảnh của Yong-hwa tại khu nghỉ mát trượt tuyết trên mạng. Công ty đã liên lạc với anh gần trước kì thi đại học, tuy nhiên anh đã không chấp nhận lời đề nghị vì không muốn trở thành nghệ sĩ. Sau đó, 50 ngày trước kỳ thi đại học, đại diện của FCN đã đến Busan để thuyết phục anh. Jung đã kể về lời đề nghị với cha mẹ, những người không biết hề biết về chuyện này trước đó. Cha mẹ Yong-hwa đã khuyến khích anh thử rồi quay lại để tiếp tục việc học của mình với suy nghĩ con trai sẽ khó lòng vượt qua được vòng thử giọng vì chưa từng nghe anh hát qua. Yong-hwa đã vượt qua buổi thử giọng và quyết định tham gia công ty với vai trò là ca sĩ chính của ban nhạc sau khi xem xét nguyện vọng ban đầu là công việc kinh doanh, lĩnh vực mà anh tự thấy mình thiếu khả năng. Anh tạm thời gác lại kì thi đại học trước mắt và đã dự thi ở đợt sau.[8]

Sự nghiệp âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Trong tất cả album của nhóm CNBLUE, phát hành tại Hàn Quốc hay Nhật Bản, thì cả hai thành viên Jung Yong-hwa và Lee Jong-hyun đều tham gia sáng tác và viết phần lớn các ca khúc.

Album đầu tiên của Jung Yong-hwa như một thành viên của CNBLUENow or never, một mini album được phát hành tại Nhật Bản vào ngày 19 tháng 8 năm 2009 dưới sự quản lí AI Entertainment. Sau đó Jung sáng tác ca khúc thứ ba Love Revolution và ca khúc thứ tư Just Please.

Jung Yong-hwa ra mắt vai trò ca sĩ của mình cùng ban nhạc rock CNBLUE tại Hàn Quốc vào ngày 14 tháng Giêng năm 2010. Bluetory là mini album đầu tiên của CNBLUE có tiêu đề I'm a loner (외톨이 야) đã ngay lập tức trở thành hit tại Hàn Quốc. I'm a loner (외톨이 야) đã đạt No.1 trên tất cả các bảng xếp hạng âm nhạc trực tuyến lớn của Hàn Quốc,[9] và đứng đầu bảng xếp hạng KBS Music Bank trong 14 ngày từ ngày 29 tháng 1 năm 2012.[10][11] I'm a loner (외톨이 야) vẫn giữ kỷ lục tại Hàn Quốc đạt No.1 trong các mạng lưới bảng xếp hạng âm nhạc truyền hình lớn trong thời gian ngắn nhất.

Vào ngày 14 tháng 1 năm 2011, Jung phát hành solo single kỹ thuật số đầu tiên của mình, "For First Time Lovers". Bài hát đã đứng đầu các bảng xếp hạng trong 2 tuần liên tiếp [12]

Vào ngày 19 Tháng 10 năm 2011, CNBLUE đã ra mắt chính thức ở Nhật Bản với ca khúc chủ đề Jung tự sáng tác "In My Head" dưới công ty quản lý Warner Music Nhật Bản.[13][14] Bài hát "In My Head" cũng được chọn là bài hát kết thúc cho "Supernatural: The Animation".[15]

Anh cũng sáng tác và là thành viên duy nhất của CNBLUE viết 2 ca khúc lớn "Where You Are", được phát hành tại Nhật Bản vào ngày 01 tháng hai năm 2012. Đĩa đơn đã đứng vị trí số một trong bảng xếp hạng hàng ngày của Oricon với 32.943 bản được bán ra vào ngày đầu tiên và trên bảng xếp hạng hàng tuần với 60.398 bản bán ra trong tuần đầu tiên.[16] Điều này khiến CNBLUE ban nhạc nước ngoài đầu tiên đứng đầu bảng xếp hạng Oricon Singles kể từ ngày 18 tháng một năm 1971, khi ban nhạc Canada Mashmakhan phát hành single "Two in the Fog", và làm CNBLUE là nhóm nhạc nam Hàn Quốc thứ tư trở thành Nam nghệ sĩ xếp hạng số 1 trong bảng xếp hạng Oricon của tuần, sau Tohoshinki (TVXQ), các thành viên của JYJ (Jaejoong và Yoochun) và Jang Geun Suk.[17]

Vào 14 tháng 1, 2013, CNBLUE trở lại với ca khúc chủ đề "I'm Sorry" sáng tác bởi Yong-hwa. "I'm sory" mô tả tâm trạng sau một cuộc chia tay. Bài hát lập tức đạt #1 tại các bảng xếp hạng khác nhau sau khi mới vừa phát hành đẩy Girls' Generation, Baek Ji-young, và Jung Hyung-don xuống,[18] để đạt được all-kill.[19]

Sáng tác[sửa | sửa mã nguồn]

Jung đã viết nhiều bài hát cho CNBLUE và cho các nghệ sĩ khác. Anh đã sáng tác và sản xuất ca khúc "Babo" (dưới 2 phiên bản Hàn và Nhật) như một món quà cho album đầu tay của Juniel, cũng là dưới cùng công ty quản lý như CNBLUE.[20] Anh cũng sáng tác và sản xuất "Love is Only You "cho một nghệ sĩ FNC, nhóm nhạc nữ AOA.[21] Jung phát hành 17 tác phẩm trong nửa đầu của năm 2012.[22]

Với bộ phim truyền hình Heartstrings, Yonghwa đã viết nhạc cho một trong những ca khúc chủ đề của phim, "Because I Miss You". Bài hát đã đạt #14 trên Gaon Chart. Anh cũng chịu trách nhiệm sản xuất cho bài hát "Casting Love" sáng tác bởi Jeon Gunhwa, một bài hát OST trong bộ phim "Marry Him Ìf You Dare".

Bài hát thương hiệu Samsung Galaxy "Feel Good", được phát hành chính thức trên Youtube ngày 23 tháng 8 năm 2013 cũng được viết bởi Yong-hwa.[23]

Tài năng trong lĩnh vực sáng tác và sản xuất của Yong-hwa được công chúng biết đến rộng rãi và đánh giá cao. Anh liên tục nằm trong top 10 được bình chọn bởi các thần tượng trong chương trình Weekly Idol của đài MBC. Anh đứng thứ nhất trong cuộc bình chọn "Top 15 nghệ sĩ đa tài nhất"[24] với khả năng ca hát, sáng tác, sản xuất, chơi nhiều loại nhạc cụ cũng như nhiều tài lẻ khác. Anh cũng đứng thứ 3 trong hai cuộc bình chọn "Ngôi Sao Thế Giới Tiếp Theo"[25] và "Ngôi Sao Sẽ Thành Công Với Vai Trò Nhà Sản Xuất"[26].

Sự nghiệp diễn xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Jung Yong-hwa đã ra mắt trước nhóm của mình với tư cách là diễn viên, trở thành thành viên đầu tiên của CNBLUE xuất hiện trên màn hình TV. Trong năm 2009, Jung Yong-hwa giành được vai diễn đầu tiên của mình Kang Shin Woo của SBS trong bộ phim You're Beatiful, được phát sóng từ 7 Tháng Mười - 26 Tháng Mười một năm 2009. Là câu chuyện xoay quanh cuộc sống của một nhóm nhạc, Jung đóng vai trò của tay guitar chính trong ban nhạc thần tượng ANJell cùng với dàn sao Jang Keun-suk trưởng nhóm, Park Shin Hye, và Lee Hongki của FT Island.

Gần hai năm sau, Jung Yong-hwa đã được chọn làm vai nam chính của bộ phim truyền hình của đài MBC Heartstrings, cùng với Park Shin-hye, một ngôi sao từ You're beautiful, và thành viên cùng ban nhạc Kang Min-hyuk. Bộ phim là một bộ phim tình cảm trẻ trung của Hàn Quốc về tình yêu và ước mơ của nhân vật chính, trong đó lần đầu tiên được phát sóng vào ngày 29 tháng 6 năm 2011.

Jung Yong-hwa cũng đã hát ba ca khúc chủ đề của Heartstrings OST, trong đó có "You've Fallen For Me "," Because I Miss You "(do Yonghwa sáng tác), và "Comfort Song ". "You've Fallen For Me" đã đứng đầu bảng xếp hạng thường niên năm 2012 tại Nhật Bản.[27]

Các show truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Sau vai diễn đầu tiên thành công, Jung Yong-hwa đã kí hợp đồng truyền hình tiếp theo cho MBC Sunday Sunday Night chương trình Trung tâm cứu hộ hệ sinh thái Hàn Quốc: Thợ săn, trong đó có bảy MC nổi tiếng, bao gồm Kim Hyun Joong, đi ra ngoài để bắt lợn rừng. Chương trình chiếu vào ngày 06 tháng 12 năm 2009 nhưng đã buộc phải sớm chấm dứt vào giữa tháng 1 năm 2010 do cuộc biểu tình của các nhóm bảo vệ động vật. Sau đó, anh tiếp tục là một trong những MC trên các chương trình thay thế nhà sinh thái, với chủ đề biến đổi khí hậu toàn cầu. Vào tháng Hai năm 2010, anh được kết hợp với Seohyun của Girls' Generation là một phần của một cặp vợ chồng giả, YongSeo Couple (Hangul: 용서 커플), cho chương trình truyền hình nổi tiếng của đài MBC We Got Married. Họ quay tập phim cuối cùng của We Got Married vào ngày 15 Tháng Ba năm 2011. Anh cũng là khách mời thường xuyên của Running Man SBS.

Sự xuất hiện của anh trên các chương trình truyền hình thực tế nhận được nhiều phản ứng tích cực và khen ngợi từ phía công chúng.

Điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Phim truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Nhà đài Phim Vai trò Ghi chú
2009 SBS You're Beatiful Kang Shin-woo Ra mắt vai trò diễn viên
2011 MBC Heartstrings Lee Shin[28] Vai chính đầu tiên
2012 SBS A Gentleman's Dignity Chính anh Khách mời (Tập 13)[29]
2013 KBS2 Marry Him If You Dare Park Se-Joo Diễn viên chính[30]

Chương trình thực tế[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tiêu đề Nhà đài Ghi chú
2009–2010 Sunday Sunday Night – Hunters: Echo House MBC Chủ trì
2010, 2011, và 2012 Strong Heart (*Mùa 1- tập 17-18, 39-40, 73-74;[31] *Mùa 2- tập 1-2[32]) SBS Khách mời
2010 Let's Go Dream Team! Season 2 (tập 17) KBS2 Khách mời
2010 Win Win (tập 5, 19 và 20) KBS2 Khách mời đặc biệt (tập 5), chủ trì (tập 19), Khách mời (tập 20)
2010 Star Golden Bell (tập 274) KBS2 Khách mời
2010 Happy Birthday (phát sóng 27/07) SBS Khách mời (với Lee Jung-shin)
2010 Haha Mong Show (tập 11) SBS Khách mời
2010–2011 We Got Married với Seohyun MBC YongSeo Couple
2011 Happy Together (tập 156 và 193) KBS2 Khách mời
2010–2011 Night After Night SBS Chủ trì (với Daesung, UEE)
2010–2013 Running Man (tập 7, 11, 17, 35-36, 72-73, 104, 127,129 và 186) SBS Khách mời
2012 Sponge (phát sóng 06/04) KBS2 Khách mời (với Lee Jung-shin)
2012 Hello KBS2 Khách mời (với Lee Jung-shin)
2012 Invincible Youth (tập 21-22) KBS2 Khách mời (với Lee Jung-shin)

MC[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Chương trình Nhà đài
2009-2010 SBS Gayo Daejeon SBS
2010–2011 Inkigayo SBS
2012 SBS Kpop Concert in America' SBS
2012 KBS Music Bank tại Chile KBS
2012 KBS Gayo Daechukje KBS
2013 Golden Disk Awards tại Malaysia JTBC

Music Video[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Music video Độ dài Album Ghi chú
2012 "Fool" (Korean: 바보) 3:57 My First June (1st mini album) bởi Juniel Ca khúc "Fool" được sáng tác bởi chính anh

Danh sách đĩa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: CNBLUE

Đĩa đơn[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Ca khúc Thứ hạng
Vị trí
Album
Gaon
Hàn Quốc

[33]
Billboard
Hàn Quốc

[34]
2011 "For First Time Lovers" (Banmal Song) 1 Đĩa đơn kĩ thuật số
"You've Fallen for Me" 5 Heartstrings OST
"Because I Miss You..." 14
"Comfort Song" Heartstrings OST phiên bản Nhật
"—" biểu hiện không có mặt tại bảng xếp hạng đó hoặc không phát hành tại khu vực đó.
Ghi chú- Billboard K-Pop Hot 100 Chart thành lập vào tháng 8 2011 và Gaon Chart được thành lập vào 2010. Phát hành trước đó sẽ không có dữ liệu trong biểu đồ.[33][35]

Đĩa đơn khác[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Ca khúc Thứ hạng
Vị trí
Album
Gaon
Hàn Quốc

[33]
Billboard
Hàn Quốc

[34]
Nhật Bản
2009 "Promise" (Lee Hongki đệm Jung Yong-hwa) You're Beatiful OST
2012 "Fool" (Juniel đệm Jung Yong-hwa) 46 38 My First June
2013 "Fool"/"Babo" (bản Nhật) (Juniel với Jung Yong-hwa) JUNI
"—" biểu hiện không có mặt tại bảng xếp hạng đó hoặc không phát hành tại khu vực đó.
Ghi chú- Billboard K-Pop Hot 100 Chart thành lập vào tháng 8 2011 và Gaon Chart được thành lập vào 2010. Phát hành trước đó sẽ không có dữ liệu trong biểu đồ.[33][35]

Giải thưởng và đề cử[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Giải thưởng Thể loại Đề cử Kết quả Ghi chú
2009 SBS Drama Awards Giải ngôi sao mới You're Beautiful Đoạt giải [36]
2010 MBC Entertainment Awards Giải nghệ sĩ yêu thích We Got Married (với Seohyun của SNSD) Đoạt giải [37]
SBS Entertainment Awards SBS Variety New Star Award Inkigayo Đoạt giải [38]
3rd Korea Drama Awards Giải nghệ sĩ yêu thích You're Beautiful Đoạt giải [39]
2011 3rd Melon Music Awards Giải phong cách âm nhạc OST "You've Fallen For Me" (Heartstrings OST) Đề cử [40]
MBC Drama Awards Giải diễn viên mới Heartstrings Đề cử
2012 48th Paeksang Arts Awards Giải nghệ sĩ yêu thích Đề cử
1st K-Drama Star Awards Giải thưởng ngôi sao Hallyu Đoạt giải
2013 KBS Drama Awards Giải cặp đôi đẹp nhất với Han Chae-ah Marry Him If You Dare Chưa quyết định [41]

Scandal cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Sau những lần đóng chung phim cùng những cử chỉ thân mật tại hậu trường, Jung được cho là có tình cảm với nữ diễn viên Park Shin Hye. Tuy nhiên cả hai đã phủ nhận điều này và nói rằng họ chỉ là 2 người bạn thân thiết. Dù vậy nhưng tin đồn vẫn luôn âm ỉ suốt nhiều năm. Tình bạn của cặp đôi YongShin được xem là tình bạn đẹp nhất làng giải trí Hàn Quốc và YongShin cũng là cặp đôi đẹp nhất màn ảnh châu Á.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă “정용화│My name is...” (bằng tiếng Hàn). 10asia.co.ko. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2011. 
  2. ^ “정용화” (bằng Tiếng Hàn Quốc). Nate. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2011. 
  3. ^ a ă (tiếng Triều Tiên)Chương trình ra mắt nghệ sĩ của anh được diễn ra vào 14 tháng 1,dcnews, Truy cập ngày 27 tháng 12 2011.
  4. ^ “’스키장훈남’ 정용화 과거사진 화제 "날때부터 얼짱이었어?"” (bằng Tiếng Hàn Quốc). newsen. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2011. 
  5. ^ http://www.kpopstarz.com/articles/33193/20130702/exo-k-himchan-bap-qri-t-ara-block-ahn-jae-hyo.htm
  6. ^ http://www.86wiki.com/view/41578.htm
  7. ^ http://cnbjonghyun.tumblr.com/post/36588755616/bapblue
  8. ^ http://enewsworld.mnet.com/enews/contents.asp?idx=14509
  9. ^ “"블루돌풍" CNBLUE, 첫 방송후 각종 차트 ‘올킬’” (bằng Tiếng Hàn Quốc). jkn.co.kr. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2010. 
  10. ^ “씨엔블루, 최단기간 1위 기록 세우며 정상 등극!” (bằng Tiếng Hàn Quốc). jkn.co.kr. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2010. 
  11. ^ “CNBLUE tops TV music charts”. 10asia. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2010. 
  12. ^ The Gaon Chart
  13. ^ CN Blue's Japan major debut,dkpopnews.net, Retrieved 20 tháng 10 2011.
  14. ^ (tiếng Triều Tiên)“Jung Yong Hwa’s self-composed song chosen as a Japanese animation's ending song”. nocutnews.co.kr. Truy cập 26 tháng 102011. 
  15. ^ “CNBLUE’s "In My Head" chosen as "Supernatural the Animation" ending song”. OneAsiaa.com. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2011. 
  16. ^ http://star.mt.co.kr/stview.php?no=2012020208385422373&type=3
  17. ^ http://www.oricon.co.jp/news/rankmusic/2006661/full/
  18. ^ http://mwave.interest.me/enewsworld/en/article/26427/cn-blue-goes-to-the-top-of-the-charts
  19. ^ http://cnbluestorm.com/2013/01/15/news-cnblue-achieves-an-all-kill-on-music-charts-with-im-sorry/
  20. ^ “Music CN Blue’s Jung Yong Hwa Serves as Producer for Rookie Artist Juniel’s Debut Album”. E News World. 15 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2013. 
  21. ^ “CNBLUE Jung Yong Hwa's Song Produced for a Girl Group AOA is Released”. Kpopstarz. 28 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2013. 
  22. ^ “씨엔블루 정용화, 올 상반기 자작곡만 17곡 '실력 인증'” (bằng tiếng Hàn Quốc). My Daily. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2013. 
  23. ^ http://www.soompi.com/2013/08/23/cnblue-pens-samsung-galaxys-brand-song-feel-good-releases-lighthearted-mv-2/#.UqFj5uKuoqo
  24. ^ http://yongseointernational.com/111103-video-mnets-weekly-idol-ranks-the-top-15-multi-talented-idols/.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  25. ^ http://weeklyidolrankings.tumblr.com/post/59631761631/130320-top-7-next-psy-world-star.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  26. ^ http://www.cnblue4u.com/2012/09/video-20120919-weekly-idol-idol-who.html.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  27. ^ http://m.enewsworld.mnet.com/news/news_view.asp?nsID=23106
  28. ^ Jung Yonghwa's 180 Degrees Transformation in "Title: 넌 내게 반했어 (You've Fallen For Me)"
  29. ^ Sunwoo, Carla (5 tháng 7 năm 2012). “Jung Yong-hwa to make cameo appearance in A Gentleman’s Dignity. Joongang Daily. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2012. 
  30. ^ “Yoon Eun Hye, Lee Dong Gun, and CNBLUE's Yonghwa confirmed for new KBS drama 'The Future Choice. 26 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2013. 
  31. ^ https://www.facebook.com/notes/%E5%BC%BA%E5%BF%83%E8%84%8F-strong-heart-%EA%B0%95%EC%8B%AC%EC%9E%A5/list-of-guest-for-season-1-ep1-124-cr-kpopella/10150271877034493
  32. ^ https://www.facebook.com/notes/%E5%BC%BA%E5%BF%83%E8%84%8F-strong-heart-%EA%B0%95%EC%8B%AC%EC%9E%A5/raw-season-2-from-ep-125/10150819653439493
  33. ^ a ă â b “Gaon Singles Chart” (bằng tiếng Hàn Quốc). Gaon Chart. 
  34. ^ a ă “Billboard K-Pop Hot 100 Chart”. Billboard. 
  35. ^ a ă “Billboard K-Pop Hot 100 Chart Launches”. Billboard. 
  36. ^ http://www.allkpop.com/2009/12/sbs_acting_awards_winners
  37. ^ http://www.allkpop.com/2010/12/yoo-jae-suk-wins-daesang-adam-and-khuntoria-couples-also-win-at-the-mbc-entertainment-awards-other-winners
  38. ^ http://www.allkpop.com/2010/12/kang-ho-dong-wins-daesang-at-the-2010-sbs-entertainment-awards-other-winners
  39. ^ http://www.kdfo.org/2010_real/ko/drama/award.asp
  40. ^ http://www.koreaboo.com/index.html/_/music-shows/winners-from-the-2011-melon-music-awards-r11713
  41. ^ “KBS Drama Awards 2013 Nominees”. Hancinema. 24 tháng 12 năm 2013. 

Liên kết[sửa | sửa mã nguồn]