Shinee

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
SHINee
샤이니
SHINee live in BKK2.jpg
SHINee biểu diễn trong SMTown Live Tour '08 tại Bangkok vào tháng 8 năm 2008
Thông tin nghệ sĩ
Nghệ danh SHINee
Nguyên quán Seoul, Hàn Quốc
Thể loại R&B, dance-pop, electropop, K-pop
Năm 2008–present
Hãng đĩa SM Entertainment (Hàn Quốc)
EMI Music Japan (Nhật Bản)
Avex Taiwan
Hợp tác SM Town
Website Korean
Japanese
Youtube
Facebook
Thành viên hiện tại
Onew
Jonghyun
Key
Minho
Taemin
Shinee
Hangul 샤이니
Romaja quốc ngữ Syaini
McCune-Reischauer Syaini

SHINee (phát /ˈʃn/ shy-nee; 샤이니; Tiếng Nhật: シャイニー; còn được viết là SHINee) là một nhóm nhạc nam R&B của Hàn Quốc được thành lập bởi SM Entertainment vào năm 2008[1]. Cái tên "SHINee" là từ kết hợp từ danh từ "shine" và đuôi tính từ "ee", có ý nghĩa là "người được ánh sáng chiếu rọi" với mong muốn nhận được sự yêu thích của các fan âm nhạc với nhiều quốc tịch và lứa tuổi khác nhau. Nhóm gồm 5 thành viên gồm: Onew, Jonghyun, Key, MinhoTaemin. Trong đó nhóm trưởng là Onew và em út là Taemin.

Nhóm đã chính thức ra mắt tại thị trường Nhật Bản vào ngày 22 tháng 6 năm 2011 bằng việc cho mắt đĩa đơn Replay (Kimi wa Boku no Everything) phiên bản Tiếng Nhật,[2] và đã đạt danh hiệu "Nghệ sĩ lọt vào top 3 trong 3 lần liên tục phát hành đĩa kể từ khi ra mắt" trong danh sách các nghệ sĩ nước ngoài. Nhóm đã đạt được thành tích mà chưa có nghệ sĩ nào đạt được kể từ bảng xếp hạng đĩa đơn được thiếp lập 44 năm trước kể từ tháng 1 năm 1968,[3] từ việc phát hành album Tiếng Nhật đầu tiên The First vào ngày 7 tháng 12, 2011.

Mục lục

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

2008-2009: Ra mắt với mini-album "Replay" và album đầu tay "The SHINee World"[sửa | sửa mã nguồn]

Replay là single đầu tiên của nhóm được phát hành vào ngày 23/5/2008. Ngày 25/5/2008, single đầu tiên của nhóm đạt vị trí #10 trên các bảng xếp hạng ở Hàn và lên đến #8, bán được 17,957 bản trong nửa đầu năm 2008. Vào 7/6/2008, SHINee tham gia Dream Concert ở Seoul Olympic Stadium cùng với các nhóm nhạc khác. Họ đã giành được giải "Ca sĩ mới của tháng" ở Cyworld Digital Music Awards vào 22/6/2008. SHINee cũng tham gia SMTown Live 08' vào 18/8/2008 ở Seoul Olympic Stadium. Ngày 23/8/2008, SHINee đã tham gia MNet 20's Choice Awards 2008, và giành lấy giải "Ngôi sao mới".

Để kỉ niệm 100 ngày debut, SHINee phát hành album The SHINee World ngày 28/8/2008. Ngay lập tức album đứng vị trí #3 trên bảng xếp hạng với 30,000 bản được bán. Tên album sau này được SHINee đặt làm tên FC của mình - SHINee World (viết tắt là Shawol). Ngày 18/9/2008, Love Like Oxygen đã đứng #1 trên bảng xếp hạng M! Countdown. Sau đó, bài hát này giúp họ nhận giải "Mutizen" trên SBS's Popular Songs.

2009-2010: Mini-album thứ hai "Romeo" và thứ ba "2009, Year of Us"[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 21/5/2009, SHINee phát hành mini-album thứ 2 - "Romeo". Album gồm có 6 bài hát: Romeo+Juliette, Please Don't Go, Senorita, Hit Me, Juliette, Talk To You. "Romeo" rất được cư dân mạng chú ý bởi bài hát "Juliette" được chính thành viên Jonghyun viết lời. Cả album như một câu chuyện hoàn chỉnh về tình yêu giữa Romeo và Juliet.

Vào ngày 19/10/2009, năm tháng sau khi phát hành single "Romeo", SHINee phát hành mini-album thứ 3 - "2009, Year Of Us". SM Entertainment nói rằng sẽ giới thiệu giọng hát của nhóm và thể hiện phẩm chất độc đáo của SHINee, mở đầu là "Ring Ding Dong", được phát hành vào ngày 14/10. Ngày 16/10, SHINee đã trở lại trên chương trình âm nhạc của đài KBS - Music Bank. Trong đầu tháng 12/2009, SHINee nhận được giải "Popularity Award" cùng với đàn anh Super Junior ở "Golden Disk Awards" lần thứ 24.

2010: Album thứ hai "Lucifer" và repackage album "Hello"[sửa | sửa mã nguồn]

SM Entertainment tiết lộ concept quảng bá cho album mới bắt đầu với Minho vào ngày 8/7/2010 và kết thúc vào ngày 12/7. Các ý tưởng cho video âm nhạc của SHINee được phát hành vào ngày 14/7 trên channel chính thức của SM Entertainment. Ban đầu, SHINee dự tính sẽ trở lại trên sân khấu KBS Music Bank vào ngày 16/7 để bắt đầu cho việc quảng bá cho album mới. Tuy nhiên, do Minho bị thương ở mắt cá chân trong chương trình "Let's Go Dream Team 2" quay vào ngày 8/7, nên sự trở lại này đã bị hoãn lại đến ngày 23/7. Album "Lucifer" được phát hành vào ngày 19/7 tại Hàn Quốc và MV trong album cùng tên cũng được phát hành cùng ngày. Trong thời gian phát hành, album đứng đầu doanh số bán ra và chiếm vị trí no.1 trên bảng xếp hạng uy tín của Hàn Quốc. Các bài hát trong album được cho là "có nhiều lựa chọn cẩn thận" và khán giả có một cơ hội tốt để trải nghiệm những thể loại âm nhạc đa dạng, những thay đổi và tiến bộ trong từng giọng hát của các thành viên. Phiên bản dance của "Lucifer" được phát hành trên channel chính thức của SM vào ngày 3/8/2010.

Sau hai tháng làm mưa làm gió với "Lucifer", SHINee tiếp tục phát hành album "Hello" – phiên bản repackaged của album "Lucifer" – vào ngày 4/10. Album có toàn bộ 13 bài hát trong "Lucifer" cùng ba bài hát mới "Hello", "One" và "Get It". Trong đó, "Hello" - một bản R&B kết hợp với nhịp đập đơn giản và âm thanh synth – là ca khúc chủ đề của album lần này. Ngược lại với "Lucifer", SHINee trở lại với hình tượng dễ thương, bài hát "Hello" là lời tỏ tình của chàng trai với người mình yêu.

2011: Debut ở Nhật với single "Replay - You're my everything"[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 6/2011, SHINee đã phát hành đĩa đơn đầu tay tại Nhật, Replay. Single tiếng Nhật ra mắt của nhóm - "Replay - You're my everything" được Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Nhật Bản (RIAJ) trao chứng nhận là 'Album Vàng' với doanh số bán ra hơn 91.000 bản trong ngày đầu tiên (22/6) và đứng thứ hai tại bảng xếp hạng Oricon tuần. Số lượng bán ra tuần đầu tiên của SHINee đã phá vỡ kỉ lục trước đây của "Bijin" (Super Junior) là 59.000 bản và xác lập kỉ lục mới cho hạng mục 'Debut single' của nhóm nhạc Hàn Quốc. SHINee ghi tên mình trở thành nhóm nhạc nam Hàn Quốc đầu tiên làm được điều này. Nhóm cũng tổ chức thành công buổi diễn Abbey Road Studio tại Anh. Nơi đây cũng chính là phòng thu của ban nhạc The Beatles. SHINee đã thành công liên tiếp với 3 đĩa đơn Replay, Juliette và Lucifer. Đây cũng là lần đầu tiên, một nghệ sĩ nước ngoài liên tiếp có 3 đĩa đơn lọt vào BXH Oricon của Nhật.

2011: Single tiếng Nhật thứ hai "JULIETTE" và thứ ba "LUCIFER"[sửa | sửa mã nguồn]

Single tiếng Nhật thứ hai của SHINee - "JULIETTE" chính thức ra mắt vào ngày 29/8. Đây là phiên bản tiếng Nhật của "Juliette", bài hát chủ đề nằm trong mini-album thứ hai phát hành vào tháng 5/2009 của nhóm. SHINee đã từng làm mưa làm gió các bảng xếp hạng âm nhạc với ca khúc này ở Hàn Quốc. Đi kèm với "JULIETTE" còn có ca khúc "Kiss Kiss Kiss" - bài hát tiếng Nhật mới toanh đầu tiên của SHINee. Ngay trong ngày đầu tiên, "JULIETTE" đã bán được 25.595 bản, dành no.1 trên bảng xếp hạng ORICON tuần, vượt mặt nhóm nhạc nữ nổi tiếng của Nhật Bản - AKB48 và nhóm nhạc Nhật vừa debut hồi đầu tháng - Kis-My-Ft2.

SHINee phát hành single tiếng Nhật thứ ba của mình - "LUCIFER" vào ngày 12/10. "LUCIFER" đã nhanh chóng leo lên vị trí thứ 3 trên bảng xếp hạng ORICON tuần với 18.408 bản, chỉ sau nhóm nhạc rock huyền thoại Nhật Bản - L'Arc-en-Ciel. Với thành tích này, SHINee đã trở thành nghệ sĩ nước ngoài đầu tiên trong vòng 44 năm lịch sử của ORICON có 3 single liên tiếp cùng lọt vào top 3 bảng xếp hạng trên.

2011: Album tiếng Nhật đầu tiên "THE FIRST"[sửa | sửa mã nguồn]

"THE FIRST" là album đầu tiên của SHINee tại Nhật, được phát hành vào ngày 7/12/2011. Ngay ngày đầu tiên ra mắt, "THE FIRST" đã dành vị trí thứ 3 trên bảng xếp hạng ORICON tuần, vượt mặt cả đàn chị Kara (ban nhạc). "THE FIRST" còn được Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Nhật Bản (RIAJ) trao chứng nhận là 'Album Vàng' khi doanh số album tiêu thụ vượt mốc 100.000 bản.

2012: Trở lại với mini album thứ tư "Sherlock"[sửa | sửa mã nguồn]

Sau một năm và sáu tháng với album làm lại "Hello" tại Hàn, các chàng trai quay trở lại với mini album "Sherlock" phát hành vào ngày 21/3. Bài hát mới đã giúp họ chiến thắng trên M!Countdown, 2 lần chiến thắng trên Music Bank và 3 lần giật giải trên Inkigayo. Không những thế, "Sherlock" cũng đồng thời tung hoành trên các BXH giúp SHINee đứng đầu BXH Gaon với con số 135.370 bản, "hạ cánh" ở vị trí thứ 5 trên World Albums Chart theo tuần của bảng xếp hạng Billboard từ ngày 31/3, vị trí thứ 10 trên Heatseekers Albums Chart và vị trí thứ 48 trên Independent Albums Chart.

2012: Tiếp tục với single tiếng Nhật thứ tư "SHERLOCK", thứ năm "Dazzling Girl" và thứ sáu "1000-nen, Zutto Soba ni Ite…"[sửa | sửa mã nguồn]

"SHERLOCK" phiên bản tiếng Nhật của SHINee được phát hành vào ngày 16/5. Đó là single tiếng Nhật thứ tư của họ, làm lại từ phiên bản tiếng Hàn. Single gồm hai bài hát: "SHERLOCK" và "Keeping Love Again". Single sẽ có sẵn 3 phiên bản khác nhau: Limited Edition, Regular First Press Edition và Regular Edition. Limited Edition sẽ đi kèm với một đĩa DVD có chứa MV cho ca khúc chủ đề và các cảnh hậu trường trong MV. Single cũng tặng kèm một tập sách ảnh 28 trang. Và ngay ngày đầu tiên lên kệ, "SHERLOCK" đã dành vị trí thứ 2 trên bảng xếp hạng ORICON với 28.045 bản.

Ngày 10/10/2012, SHINee phát hành đĩa đơn thứ năm của họ tại Nhật Bản, "Dazzling Girl". Không giống như những single tiếng Nhật trước đó, ca khúc này là một bài hát gốc Nhật và được chọn làm bài hát chủ đề cho phim truyền hình Nhật Bản "Sukkiri". Bán được 55.543 bản trong ngày đầu tiên, "Dazzling Girl" đạt vị trí thứ hai trên bảng xếp hạng ORICON. Đây là single tiếng Nhật của họ đạt được kết quả tuyệt vời vì doanh số bán hàng ngày đầu tiên tại Nhật. Vào ngày 12/11, theo Hội Ghi âm Nhật Bản, single "Dazzling Girl" đã nhận được Chứng chỉ Vàng nhờ vào lượng tiêu thụ khá khẩm. Mặt khác, tháng 10 là tháng khá nhiều nghệ sĩ K-Pop xuất chiêu ở Nhật. Trong đó, SHINee là nghệ sĩ K-Pop tiêu thụ được nhiều đĩa nhất cho "Dazzling Girl" với 109.032 bản kể từ ngày lên kệ, giúp nhóm đứng ở vị trí thứ 4. Theo sau là KARA xếp thứ 8 và BEAST ở vị trí thứ 21.

Sau khi nắm giữ vị trí thứ hai trên bảng xếp hạng ORICON với "Dazzling Girl", "1000-nen, Zutto Soba ni Ite…" là single ballad gốc Nhật đầu tiên, cũng là single tiếng Nhật thứ hai mà SHINee tung ra thị trường. Ca khúc này là sự kết hợp giữa chất giọng tuyệt vời và hòa âm ăn ý của các thành viên SHINee, viết về những cảm xúc nghìn năm mà nhóm luôn muốn thể hiện, ca khúc này được kì vọng sẽ vượt qua những bài hát kể chuyện cổ điển. Bằng cách sử dụng ý tưởng một cốt truyện để tạo nên thước phim ngắn, MV này thật sự thể hiện sâu hơn ý nghĩa ẩn sau bài hát. Trong ngày đầu tiên ra mắt, "1000-nen, Zutto Soba ni Ite…" đã dành vị trí thứ hai trên bảng xếp hạng ORICON với 22.954 bản. Ngoài ra, single còn đạt vị trí thứ 3 trên ORICON tuần và vị trí thứ 10 trên ORICON tháng.

2013: Trở lại với album thứ ba "Chapter 1. Dream Girl - The Misconception Of You"[sửa | sửa mã nguồn]

Với album thứ ba này, các chàng trai đã cho người hâm mộ thấy màu sắc âm nhạc khác biệt, đa dạng với 2 phần.

Ở chapter 1, trang phục biểu diễn với tông màu sáng đã đem lại một hình ảnh tươi mới và rạng rỡ. Với 9 bài hát Spoiler; Dream Girl (ca khúc chủ đề); Hitchhiking; Punch Drunk Love; Girls, Girls, Girls; Aside; Beautiful; Dynamite; Runaway. Album chapter 1 đã nhận được phản ứng rất tích cực từ người nghe. Bài hát chủ đề Dream Girl đã nhận được sự đánh giá cao từ G-Dragon (Big Bang), ca khúc cũng đã giúp SHINee giành được 10 cúp tại các sân khấu khác nhau và phá vỡ kỉ lục với 4 lần liên tiếp giành được cup tại Show Champion.

2013: Single tiếng Nhật thứ bảy "Fire"[sửa | sửa mã nguồn]

Single "Fire" được phát hành vào ngày 13/3/2013 là phát hành cuối cùng của họ dưới EMI Music Japan. Ngày 04/4/2013 EMI tiết lộ rằng "Fire" sẽ là bài hát kết thúc cho các kênh chương trình truyền hình TBS - "Matsuko no shiranai sekai" bắt đầu từ ngày 19 tháng 4 (thứ sáu) 0:45~ phát sóng 1 giờ tập đặc biệt

2013: Phát hành album thứ ba "Chapter 2. Why So Serious? - The Misconception Of Me"[sửa | sửa mã nguồn]

Chapter 2 cũng gồm 9 bài hát với một hóa thân hoàn toàn khác so với chapter 1 trong ca khúc chủ đề. 5 chàng trai đã hóa thân thành những zoombie vô tình yêu con người. Chapter 2 có gam màu âm nhạc trầm và có phần ma mị bí ẩn hơn so với phần 1. Rất đáng tiếc, trong đợt quảng bá ca khúc, thành viên Jonghyun không thể tham gia được do tai nạn anh gặp phải vào ngày 1/4.

Album lần này đã giúp cho SHINee giành được vị trí thứ nhất về số lượng album bán ra với hơn 380.000 bản, đồng thời cũng giúp củng cố màu sắc âm nhạc riêng biệt của 5 chàng trai.

2013: Album tiếng Nhật thứ hai "Boys Meet U"[sửa | sửa mã nguồn]

Bốn ca khúc nằm trong album gồm "Sherlock", "Dazzling Girl", "1000-nen, Zutto Soba ni Ite..." và "Fire" đã được phát hành lại ở Nhật Bản. Một ca khúc khác - "Breaking News" được phát sóng trên Tokyo FM trong Radian Limited F của Yamada Hisashi. Phiên bản ngắn của MV cho bài hát cũng được phát hành vào ngày 21/6/2013 trên kênh Youtube chính thức của Universal Music Japan. Danh sách đầy đủ của các bài hát trong album và preview của họ dưới hình thức một liên khúc được phát hành vào ngày 23/6/2013. Đặc biệt ca khúc chủ đề lần này mang giai điệu tình nghịch vui tưởi tràn ngập không khí ngày hè. Lần này MV được quay ngoài trời tai một bãi biển xanh tỏa nắng vàng khiến cho ShaWol vô cùng thích thú.

Album được phát hành vào ngày 26/6/2013, trên các trang web âm nhạc trực tuyến để tải về kỹ thuật số cũng như ba phiên bản khác nhau: một phiên bản thường gồm CD, một phiên bản CD + DVD và một phiên bản giới hạn, trong đó có một đĩa CD, DVD và một cuốn sách ảnh.

2013: Phát hành "Chapter 3. The Misconception of Us"[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là chapter cuối cùng của album thứ 3. Chapter này gồm toàn những bài hát ở 2 chapter trước và thêm vào 2 bài "Better Off và "Selene 6.23". Hai ca khúc thêm vào đều là những bài hát có giai điệu ngọt ngào, là thế mạnh cho một nhóm nhạc có khả năng hát live tốt như SHINee. Đăc biệt lần này Jonghyun lại tiếp tục tham gia viết lời cho ca khúc "Selene 6.23".

2013: Single tiếng nhật thứ tám "BOYS MEET U"[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 21/8/2013, phiên bản đầy đủ của MV cho "Boys Meet U" được phát hành cùng ngày với single. Đặc biệt ca khúc chủ đề cùng tên mang giai điệu tình nghịch vui tươi tràn ngập không khí ngày hè, được quay ngoài trời tại một bãi biển xanh tỏa nắng vàng khiến cho Shawol vô cùng thích thú.

Vào ngày 13 và 14 SHINee đã tổ chức một loạt các buổi hòa nhạc bất ngờ để kỷ niệm việc phát hành của single tiếng Nhật sắp tới với 8,000 fan tham gia.

Ngoài ra, nhóm đã xuất hiện trong một chương trình đặc biệt trên kênh công cộng Ameba Studio. Chương trình được phát sóng vào ngày phát hành của đĩa đơn, 21/8 lúc 20:30-21:00 JST.

2013: Single "Green Rain"[sửa | sửa mã nguồn]

"Green Rain" cùng phiên bản instrumental đã được phát hành như một đĩa đơn kỹ thuật số vào ngày 28/6/2013 dưới hãng thu âm của SM Entertainment và KT Music. "Green Rain" là nhạc phim thứ hai cho bộ phim truyền hình của đài MBC của "The Queen's Classroom", bắt đầu bằng "The 2nd Drawer" từ đồng nghiệp cùng công ty Sunny. "Green Rain" cũng được sử dụng làm ca khúc chính kết thúc cho bộ phim này với tiết tấu nhẹ nhàng và lời ca tươi mới.

2013: Mini album thứ năm "Everybody"[sửa | sửa mã nguồn]

Được phát hành vào ngày 14/10, album có ca khúc chủ đề cùng tên là "Everybody". Bài hát thuộc dòng nhạc complextro-dubstep mang giai điệu mạnh mẽ và lần này các chàng trai đã xuất hiện với tạo hình quân đội độc đáo. Trước đó nhóm đã có một sân khấu comeback M!Countdown đầy ấn tượng vào ngày 10/10/2013 khiến cho các Shawol vô cùng phấn khích và sự kỳ vọng cho album lần này càng lên cao hơn. Mini album gồm 7 bài hát: Everybody, Symptoms, Close The Door, Colorful, Queen Of New York, One Minute Back và Destination. Đặc biệt, lời ca khúc Symptoms được chính thành viên Jonghyun viết lời.

Ngoài ra, ngày 20/12, SHINee bất ngờ tiết lộ MV cho "Colorful" để cảm ơn người hâm mộ đã ủng hộ họ một thời gian dài. MV bao gồm các video clip hoạt động quảng bá của các thành viên năm 2013.

2013: Single tiếng Nhật thứ chín "3 2 1"[sửa | sửa mã nguồn]

Vào 10/10/2013, EMI Records Japan công bố đĩa đơn thứ chín của SHINee. Ngày 05/10, bài hát mới "3 2 1" đã bắt đầu phát như bài hát chủ đề cho truyền hình Tokyo New Drama - "Tokyo Toy Box". Phiên bản ngắn của MV được phát hành vào ngày 11/9/2013 trước đó. [6] Theo chính trang web xếp hạng âm nhạc Nhật Bản - Oricon Daily Chart, SHINee đã tiêu thụ 42.216 bản cho single mới của họ "3 2 1" trong ngày đầu tiên và hạ cánh ở vị trí thứ ba của bảng xếp hạng.

Hình ảnh và nghệ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

SHINee nổi tiếng với phong cách thời trang của họ, được tạo ra bởi nhà thiết kế Ha Sang Baek (하상백), với đặc trưng làm nổi bật đỉnh cao của giày thể thao, quần jeans bó và áo len đầy màu sắc. Phong cách của họ đã tạo ra một xu hướng thời trang giữa các học sinh ở Hàn Quốc mà các nhà truyền thông đã đặt tên là "SHINee Trend". Điều này đã dẫn đến cơ hội để họ có thể làm đại diện quảng cáo sản phẩm cho công ty mỹ phẩm Hàn Quốc Nana B và Reebok, đồng thời quảng bá ban nhạc cùng một lúc.

SHINee là nhóm nhạc tương đối đặc biệt và nổi trội vì mỗi thành viên trong nhóm đều rất giỏi ở một lĩnh vực nào đó: Taemin rất giỏi vũ đạo, Minho là một vận động viên xuất sắc, Key rất sành về thời trang, Jonghuyn là thiên tài âm nhạc còn Onew sở hữa chất giọng đặc biệt không thể lẫn với bất cứ ai ở K.pop được.

Các hoạt động khác[sửa | sửa mã nguồn]

Bên cạnh việc ca hát, SHINee cũng tham gia nhiều hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác

Các chương trình thực tế, tạp kĩ[sửa | sửa mã nguồn]

Hello Baby (season 2)

Star King

Yunhanam

Let's Go Dream Team (season 1, 2)

Idol Army Show (khách mời)

Star Golden Bell (season 1, 2)

Flower Boy Generation (ep 14, 15, 16)

Happy Together (ep 183)

The Beatles Code (season 1, 2)

High Society

SHINee's Wonderful Day

We Got Married (Key vs Yagi Arigsa) (Taemin vs Naeun)

1000 Challenge Songs

Namkan School

Hello

Weekly Idol

Royal Villa (Onew)

Diễn xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Honey Pot[sửa | sửa mã nguồn]

SHINee đã cho mọi người thấy khả nặng tạo tiếng cười trong "Honey pot" của đài MBC. Minho vào vai một chàng trai trẻ cùng Kim Na Young, thể hiện tình yêu giữa học sinh và cô giáo một cách hài hước. Trong khi đó, Jonghyun đóng vai với An Young Mi, tận hưởng kiểu hẹn hò bạn bè và thể hiện sự dễ thương của anh ấy một cách hoàn hảo. Sau bộ phim này, SHINee đã giành được toàn bộ trái tim của các noona trong đội ngũ sản xuất.

Pianist[sửa | sửa mã nguồn]

"Pianist" là bộ phim kể về câu chuyện giữa Yoon Insa (Han Jihye đóng) - một thiên tài piano nhưng phải từ bỏ giấc mơ của mình vì hoàn cảnh kinh tế của gia đình và Oh Jero (Minho đóng) - một chàng trai có năng khiếu âm nhạc nhưng phải làm việc ở xưởng piano vì tuổi thơ khốn khó. Sau bao lần tình cờ gặp gỡ, mối quan hệ của hai người tiến thêm một bước nữa để rồi thắt chặt hơn bao giờ hết, trái tim của Insa cũng đã mỉm cười trở lại còn Jero cũng tiến bước tới để nắm chặt lấy giấc mơ của mình.

To The Beautiful You[sửa | sửa mã nguồn]

Vào 26/4/2012, Minho đã được xác nhận vào vai chính, cùng với f(x) Sulli và Lee Hyunwoo cho bộ phim truyền hình Hàn Quốc "To The Beautiful You" - phiên bản Hàn Quốc của "Hana Kimi". Bộ phim bắt đầu phát sóng vào 15/8/2012 trên kênh SBS. Nhân vật của Minho là Kang Tae Joon, một vận động viên nhảy cao đạt huy chương vàng đã từ bỏ nhảy cao sau khi bị thương. Để chuẩn bị cho vai diễn của mình, Minho được đào tạo cá nhân từ huấn luyện viên Kim Taeyoung, cựu vận động viên quốc gia nhảy cao và là thành viên của Hiệp hội đoàn điền kinh của Hàn Quốc trong vòng một tháng rưỡi. Hiện tại đến thời điểm này, Minho đạt mức nhảy cao là 175 cm.

Medical Top Team[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 29/7/2013, có thông báo rằng Minho sẽ trở lại màn ảnh nhỏ qua bộ phim "Medical Top Team" của đài MBC trong vai em út đẹp trai (thành viên trẻ nhất) của một đội ngũ y tế. Đường tình yêu của anh với Oh Yeon Seo sẽ làm sáng tâm trạng của mối tình tay ba giữa các nhân vật chính của bộ phim Kwon Sang Woo, Jung Ryeo Won và Joo Ji Hoon.

Royal Villa[sửa | sửa mã nguồn]

Là một sitcom hài hước gồm 10 tập thuộc hãng sản xuất JTBC, kể về câu chuyện của một chung cư với những con người có cuộc sống khác nhau. Đây là sitcom đầu tiên mà Onew tham gia. Anh vào vai một chàng trai thất nghiệp dù tốt nghiệp đại học Seoul - một trường đại học danh tiếng của Hàn Quốc, sống cùng một người anh cũng chung cảnh ngộ. Trong căn phòng mà họ thuê xuất hiện một cô ma nữ với cái chết uẩn khúc, vô tình đem lòng yêu anh chàng thất nghiệp kia nhưng không thể. Bộ phim tập trung khai thác vào yếu tố hài hước tạo cảm giác thoải mái cho người xem.

Salamander Guru And The Shadows[sửa | sửa mã nguồn]

"Salamander Guru And The Shadows" là bộ phim dài 10 tập của đài SBS. Thiên tài hacker Min Hyuk (Minho đóng) được tiếp nhận tài năng của người cha vốn là một thiên tài máy tính. Sau cái chết của ông, anh được nhận làm con nuôi ở nước ngoài nhưng vẫn nuôi mong muốn tìm được kẻ giết hại cha mình. Đến năm 20 tuổi, Min Hyuk trở về Hàn để tìm gã X. Nhớ theo kí ức của mình, anh tìm đến nhà của nhà tiên tri Salamander Guru và gặp Won Sam (Im Won Hee) và Sun Dal (Oh Dal Su). Để tìm được bí ẩn về gã X, Min Hyuk buộc phải giúp những tên guru giả mạo này.

Nhạc kịch[sửa | sửa mã nguồn]

Brothers Were Brave[sửa | sửa mã nguồn]

"Brothers Were Brave" là một vở nhạc kịch lần đầu tiên được diễn trên sân khấu vào năm 2008, và đã rất thành công với bố cục và cốt truyện ý nghĩa. Câu chuyện nói về hai anh em Sukbong và Joobong (Onew đóng) có một mối quan hệ không tốt. Họ xuống thị trấn sau khi nhận được tin cha qua đời. Trong khi đi tìm gia tài mà cha để lại cho họ. hai anh em đã bắt đầu hiểu nhau hơn và hàn gắn được mối quan hệ của mình. Nhân vật JooBong do Onew đóng là người vô cùng trầm tĩnh, luôn cảm thấy mình không nhận được nhiều sự yêu thương bằng đứa con thứ hai và được nhận vào trường đại học Seoul.

Rock of age[sửa | sửa mã nguồn]

"Rock of age" là một tác phẩm nổi tiếng từng giành giải thưởng nhạc kịch Broadway và cũng rất được hứa hẹn với phiên bản hàn. Vở nhạc kịch kể về câu chuyện của Sherrie - một cô gái ở thị trấn nhỏ khi tới Los Angels đã gặp gỡ Drew, một tay rocker nổi tiếng và rồi họ phải lòng nhau, tạo nên những ca khúc bất hủ trong những năm 80. Đây cũng là lần thứ hai Onew tham gia vào lĩnh vực nhạc kịch, anh đã thể hiện sự tiến bộ và chuyên nghiệp của mình trong lần tham gia này. Vở nhạc kịch diễn ra từ 15/9~30/10. Onew đảm nhận vai nam chính Drew hứa hẹn sẽ đem lại bất ngờ cho khán giả với hình tượng rocker mới mẻ này. Ngoài ra theo các fanacc, trong các buổi biểu diễn của Rock of age, có thể thấy rõ sự xuất hiện của Kyuhyun (SuJu), Lee Joon (MBLAQ), Key, Minho, Taemin và thậm chí Jonghyun còn dẫn theo cả mẹ và chị gái đến để ủng hộ trưởng nhóm.

Catch Me If You Can[sửa | sửa mã nguồn]

Key được chọn vào vai Frank Abagnale Jr, quay với Um Kijoon, Kim Jeong-hoon, Park Kwang-hyun và Kyuhyun của Super Junior với Sunny SNSD và Dana CSJH The Grace, trong vở nhạc kịch "Catch Me If You Can" đánh dấu lần đầu tiên sân khấu của mình. Vở nhạc kịch bắt đầu từ ngày 28/3 đến 10/6 tại Blue Square, Samsung Card Hall, thuộc Hannam-dong, Seoul.

Ngày 24/10/2012, có thông báo Key sẽ tham gia vào sự trở lại của vở nhạc kịch "Catch Me If You Can", bắt đầu vào 14/12/2012 và tiếp tục cho đến ngày 09/2/2013 tại Nhà hát lớn của Trung tâm Nghệ thuật Seongnam. Dàn diễn viên chủ yếu vẫn giữ nguyên với Um Kijoon, Kyuhyun, Dana và Sunny cùng với việc bổ sung Dongwoon của Beast. [11]

Bonnie & Clyde[sửa | sửa mã nguồn]

Vào 18/7/2013, có thông báo Key sẽ được chọn vào vai Clyde của vở nhạc kịch "Bonnie & Clyde". Cùng với các diễn viên Kim Minjong, Uhm Kijoon, Dana của CSJH The Grace và Hyungsik của ZE:A. Việc biểu diễn sẽ được bắt đầu tại Chungmu Art Hall ở Seoul vào ngày 04/9 cho đến 27/10.

The Three Musketeers[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 22/10/2013, SM Entertainment thông báo rằng Key sẽ đóng một vai diễn trong vở nhạc kịch "The Three Musketeers" - D'Artagnan. Tham gia về việc luân chuyển vai diễn của D'Artagnan là Uhm Kijoon, Jun.K của 2PM, Hyungsik của ZE:A và Sungmin của Super Junior, cũng như Park Jinwoo và Song Seung Hyun của FT Island là diễn viên đặc biệt cho vai diễn. "The Three Musketeers" được tổ chức từ ngày 13/12/2013 đến tháng 2/2014 tại Trung tâm nghệ thuật Seongnam Opera House.

Sáng tác[sửa | sửa mã nguồn]

Tên thành viên Ca khúc
Onew

Viết lời

"Your Name",

Jonghyun

Viết lời

"Juliette", "UP&DOWN" (cùng MISFIT), "Obsession", "Orgel" (cùng Minho), "Spoiler", "Dangerous", "Symptoms",

Sáng tác

"Honesty", "Alarm Clock" (cùng Minho), "Selene 6.23", "Better Off", "Gloomy Clock" (của IU), "Red Candle" (của Son Dambi),

Key

Viết rap

"Get Down" (cùng Minho), "Girls, Girls, Girls" (cùng Minho),

Minho

Viết rap

"Replay", "Love Like Oxygen", "Love's Way", "One for Me", "Graze", "Best Place", "Get Down" (cùng Key & JQ), "Obsession", "UP&DOWN", "Your Name", "Hello", "Get It", "One", "Better", "To Your Heart", "Stranger", "Alarm Clock", "Honesty", "Rocketeer" (cover ở London), "Dream Girl", "Girls, Girls, Girls" (cùng Key), "Aside", "Beautiful", "Dynamite", "SHINe" (Medusa I), "Excuse Me Miss",

Viết lời

"Talk To You", "Juliette" (phiên bản Hàn), "Hit Me", "Romeo + Juliette", "Shout Out" (cùng MISFIT), "WOWOWOW" (cùng JQ), "Orgel" (cùng Jonghyun), "Sleepless Night" (cùng Changmin DBSK),

Taemin

Thành viên[sửa | sửa mã nguồn]

Để biết thêm thông tin của mỗi thành viên trong nhóm, xin xem bài Onew, Jonghyun, Key, MinhoTaemin

Nghệ danh Tên thật Ngày sinh Thông tin
Onew

Lee Jin Ki (이진기/李珍基/Lý Tấn Cơ)

14/12/1989

  • Vai trò: Leader, Lead vocalist
  • Nhóm máu: O
Jonghyun

Kim Jong Hyun (김종현/金鐘鉉/Kim Chính Hiền)

08/04/1990

  • Vai trò: Composer, Main vocalist
  • Nhóm máu: AB
Key

Kim Ki Bum (김기범/金基範/Kim Cơ Phạm)

23/09/1991

  • Vai trò: Lead Dancer, Lead Rapper, Vocalist
  • Nhóm máu: B
Minho

Choi Min Ho (최민호/崔珉豪/Thôi Mẫn Hạo)

09/12/1991

  • Vai trò: Main rapper, Main Dancer, Sub-vocalist, Visual, Face of the group
  • Nhóm máu: B
Taemin

Lee Tae Min (이태민/李泰民/Lý Thái Mẫn)

18/07/1993

  • Vai trò: Maknae, Main dancer, Vocalist
  • Nhóm máu: B

Danh sách đĩa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Album[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Thông tin Danh sách ca khúc Số bản tiêu thụ
2008 The SHINee World 113,690
(Hàn Quốc)
2010 Lucifer 135,150
(Hàn Quốc)
2011 THE FIRST 124,588
(Nhật Bản)
2013 Chapter 1. Dream Girl – The Misconceptions of You 283,189+
(Hàn Quốc)
Chapter 2. Why So Serious? – The Misconceptions of Me 108,634+
(Hàn Quốc)
Chapter 3. – The Misconceptions of Us 105,000+
(Hàn Quốc)
Boys Meet U 69,010+
(Nhật Bản)

Album thu lại[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Thông tin Danh sách ca khúc Số bản tiêu thụ
2008 Amigo 100,000+
(Hàn Quốc)
2010 Hello 95,349
(Hàn Quốc)

Đĩa đơn[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Thông tin Danh sách ca khúc Số bản tiêu thụ
2008 Replay
  • Phát hành: 23 - 05 - 2008
  • Ngôn ngữ: tiếng Hàn Quốc
  • Phân phối: SM Entertainment
31,131
(Hàn Quốc)
2009 Romeo
  • Phát hành: 21 - 05 - 2009
  • Ngôn ngữ: tiếng Hàn Quốc
  • Phân phối: SM Entertainment
78,551
(Hàn Quốc)
2009, Year Of Us
  • Phát hành: 19 - 10 - 2009
  • Ngôn ngữ: tiếng Hàn Quốc
  • Phân phối: SM Entertainment
66,219
(Hàn Quốc)
2011 Replay-You're my everything
  • Phát hành: 22 - 06 - 2011
  • Ngôn ngữ: tiếng Nhật Bản
  • Phân phối: EMI Music Japan
141,689
(Nhật Bản)
JULIETTE
  • Phát hành: 29 - 08 - 2011
  • Ngôn ngữ: tiếng Nhật Bản
  • Phân phối: EMI Music Japan
73,147
(Nhật Bản)
LUCIFER
  • Phát hành: 12 - 10 - 2011
  • Ngôn ngữ: tiếng Nhật Bản
  • Phân phối: EMI Music Japan
62,193
(Nhật Bản)
2012 Sherlock
  • Phát hành: 19 - 03 - 2012
  • Ngôn ngữ: tiếng Hàn Quốc
  • Phân phối: SM Entertainment
176,649
(Hàn Quốc)
SHERLOCK
  • Phát hành: 16 - 05 - 2012
  • Ngôn ngữ: tiếng Nhật Bản
  • Phân phối: EMI Music Japan
68,291+
(Nhật Bản)
Dazzling Girl
  • Phát hành: 10 - 10 - 2012
  • Ngôn ngữ: tiếng Nhật Bản
  • Phân phối: EMI Music Japan
110,548+
(Nhật Bản)
1000年、ずっとそばにいて…
  • Phát hành: 12 - 12 - 2012
  • Ngôn ngữ: tiếng Nhật Bản
  • Phân phối: EMI Music Japan
46,117+
(Nhật Bản)
2013 Fire
  • Phát hành: 13 - 03 - 2013
  • Ngôn ngữ: tiếng Nhật Bản
  • Phân phối: EMI Music Japan
54,510+
(Nhật Bản)
Everybody
  • Phát hành: 13 - 03 - 2013
  • Ngôn ngữ: tiếng Hàn Quốc
  • Phân phối: SM Entertainment
122,284+
(Hàn Quốc)
3 2 1
  • Phát hành: 04 - 12 - 2013
  • Ngôn ngữ: tiếng Nhật Bản
  • Phân phối: Universal Music Japan
79,490+
(Hàn Quốc)

Các bài hát quảng bá[sửa | sửa mã nguồn]

  • 2008: "Noona Neomu Yeppeo (Replay)"
  • 2008: "Sanso Gateun Neo (Love Like Oxygen)"
  • 2008: "A.Mi.Go (Amigo)"
  • 2009: "Juliette"
  • 2009: "Ring Ding Dong"
  • 2009: "Jo Jo"
  • 2010: "Lucifer"
  • 2010: "Hello"
  • 2011: "Replay" (Japanese)
  • 2011: "Juliette" (Japanese)
  • 2011: "Lucifer" (Japanese)
  • 2012: "Sherlock"
  • 2012: "Sherlock" (Japanese)
  • 2012: "Dazzling Girl" (Japanese)
  • 2012: "1000 Years, Always By Your Side (Japanese)
  • 2013: "Dream Girl"
  • 2013: "Fire" (Japanese)
  • 2013: "Why So Serious?" (Korean)
  • 2013: "Boys Meet U" (Japanese)
  • 2013: "Everybody" (Korean)

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Giải thưởng
2008
  • Cyworld Digital Music Awards (May Rookie of the Month)
  • MNET 20's Choice Awards (Hot New Star)
  • Asia Song Festival (Best New Artist)
  • Style Icon Awards 2008 (New Icon Award)
  • 15th Korea Entertainment Arts Awards (Best Newcomer)
  • M.net Korean Music Festival 2008 (Best Male Rookie)
  • 23rd Golden Disk Awards (YEPP Newcomer Album)
2009
  • 18th Seoul Music Awards (Best Newcomer)
  • 24th Golden Disk Awards (YEPP Popularity Award)
2010
  • 25th Golden Disk Awards (Ceci Popularity Award)
  • 25th Golden Disk Awards (Bonsang Award)
  • 2nd Singapore Entertainment Awards (New Generation Artists)
2011
  • 19th Seoul Music Awards (Popularity Award)
  • 19th Seoul Music Awards (Bonsang Award)
2012
  • Mnet Asian Music Award (Best Dance Performance - Male)
  • Popular Culture and Art Awards
2013
  • Mnet 20's choice (20's performance)
  • 5th MelOn Music Awards (Artist of the year, top 10 artist)
  • 15th Mnet Asian Music Awards (Best Dance Performance - Male)
  • MBC Entertainment Awards (Popularity Awards)
  • Golden disk awards (Disk Bonsang, Disk Popularity Award, Ceci Asia Icon Award)
  • Seoul Music Award (Hallyu Special Award, Popularity Award, Bonsang)

Concert và tour diễn[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ (tiếng Triều Tiên) “SM's new 5-member group - SHINee”. Newsen. Kim Hyeong Woo. 19 tháng 5 năm 2008. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2008. 
  2. ^ (tiếng Nhật) “SHINee”. SM Entertainment Japan and EMI Music Japan. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2010. 
  3. ^ (tiếng Nhật) “SHINee who is bursting with popularity, releasing a ballad for the first time as their new single”. 4 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2012.