Yesung

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Yesung (예성)
Yesung 2011.jpg
Thông tin nghệ sĩ
Tên khai sinh Kim Jong-woon
Sinh 24 tháng 8, 1984 (30 tuổi)
Cheonan, Chungcheong Nam, Hàn Quốc
Nguyên quán Seoul, Hàn Quốc
Nghề nghiệp Ca sĩ, vũ công, diễn viên
Thể loại Pop, Dance, R&B, Ballad
Nhạc cụ Piano
Năm 2005 đến nay
Hãng đĩa SM Entertainment
Hợp tác SM Town, Super Junior, Super Junior-K.R.Y, Super Junior-Happy
Stage name
Hangul 예성
Hanja (Hán tự) 藝聲
Romaja quốc ngữ Yeseong
McCune-Reischauer Yesŏng

Kim Jong-woon (Hán tự: 金鐘雲/Hán Việt: Kim Chung Vân) sinh ngày 24 tháng 8, 1984, được biết đến bởi nghệ danh Yesung, là một ca sĩdiễn viên Hàn Quốc. Anh là một trong ba giọng ca chính của boy band Super Junior. Anh đã từng là một DJ cho chương trình phát thanh của riêng mình, M.I.R.A.C.L.E for You - chương trình đã kết thúc phát sóng vào tháng 9, 2007. Nghệ danh của anh - Yesung (chữ Hán: ) được dịch là "tiếng hát của nghệ sĩ" (nghệ thanh)

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Super Junior[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm: Super Junior

Yesung sinh tại Cheonan, Chungcheong Nam. Anh có một em trai tên là Kim Jong-jin. Khi còn nhỏ, anh đã bộc lộ niềm yêu thích đối với ca hát. Năm 1999, Yesung tham gia một cuộc thi hát trên truyền hình và đã đoạt giải vàng tại cuộc thi Cheonan Singing Competition. Năm 2001, mẹ của Yesung đã đưa anh đến thử giọng cho chương trình Starlight Casting System của SM Entertainment, một buổi thử giọng để tuyển chọn nghệ sĩ cho công ty. Anh gây ấn tượng với ban giám khảo bằng giọng hát nghệ thuật của mình, và ký hợp đồng với SM Entertainment trong năm đó. Cuối năm 2004, Yesung đã được chọn vào ban nhạc dự án đông thành viên Super Junior

Ngày 06 tháng 11, 2005, Yesung đã cùng Super Junior 05 chính thức ra mắt trên chương trình âm nhạc "Popular song" của đài SBS trình diễn single đầu tay "TWINS (Knock Out)" với khoảng 500 người hâm mộ. Một album studio đầy đủ được phát hành một tháng sau đó, đứng vị trí # 3 trên bảng xếp hạng album hàng tháng MIAK K-pop.[1]

Vào tháng 3, 2006, SM Entertainment bắt đầu tuyển thành viên cho Super Junior 06. Tuy nhiên kế hoạch thay đổi khi công ty thêm vào nhóm thành viên thứ 13 Kyuhyun và tuyên bố ngừng hình thành các thế hệ Super Junior tương lai. Nhóm đã bỏ hậu tố "05", chính thức trở thành Super Junior. Nhóm mới gồm 13 người này đã giành thắng lợi lớn sau khi phát hành CD single đầu tiên U vào mùa hè 2006 - CD single thành công nhất của họ cho đến khi "Sorry, Sorry" ra mắt vào tháng 3, 2009. Trong suốt sự nghiệp của mình với Super Junior, Yesung đã được đặt vào hai phân nhóm (các nhóm nhỏ Super Junior). Trong tháng 11, 2006, Yesung đã được đặt trong phân nhóm đầu tiên của Super Junior, Super Junior-K.R.Y, một nhóm chuyên hát những ca khúc buồn, R&B Ballad. Gần hai năm sau, Yesung lại trở thành một thành viên của Super Junior-Happy. Ngày 10 tháng 5, 2008, Yesung đã được đưa đến bệnh viện sau khi anh gục ngã trong cuộc chạy marathon từ thiện dài 70 km. Ngày 8 tháng 8, anh lại được đưa đến bệnh viện một lần nữa sau khi rơi khỏi sân khấu cao 1,5 m trong buổi tập cho chương trình Music Bank của đài KBS. Vết thương đã cắt đứt thương tích cũ từ cổ và thắt lưng và Yesung đã không được điều trị trong bệnh viện cho đến hai ngày sau đó.

Vào tháng 6, 2011, Yesung đã tham gia chương trình Immortal Song 2 của đài KBS - một chương trình mà các ngôi sao thần tượng hát lại những bài hát cũ của các huyền thoại âm nhạc theo phong cách riêng của mình và người chiến thắng sẽ được xác định theo sự bầu chọn của khán giả. Yesung thua trong tập đầu tiên nhưng đã nhanh chóng trở thành người chiến thắng cuối cùng trong tập 3 với bài hát The more I love của huyền thoại Boohwal. Anh chỉ tham gia trong vài tập, nhưng sau đó do lịch trình bận rộn của Super Junior nên công ty cũng không còn lựa chọn nào khác là phải rút anh ra khỏi chương trình.

Vào 6 tháng 5, 2013, Yesung nhập ngũ bí mật, gia nhập quân đoàn dự bị Jeonbook Jeonju số 35. Anh đi thẳng vào xe quân sự và không ở lại giao lưu với người hâm mộ. Anh sẽ trải qua khóa huấn luyện cơ bản trong 4 tuần trước khi chính thức phục vụ trong quân đội 22 tháng với vai trò nhân viên phục vụ cộng đồng.

Dẫn chương trình[sửa | sửa mã nguồn]

Từ tháng 9, 2006 đến tháng 9, 2007, Yesung là DJ cho chương trình phát thanh của riêng mình, M.I.R.A.C.L.E for You - nơi các thành viên của Super Junior thường xuyên tham gia với tư cách khách mời. Tuy nhiên, ngay trước lễ kỷ niệm đầu tiên của chương trình, Yesung đã phải kết thúc vai trò DJ để có thể tập trung vào album thứ hai của Super Junior,Don't Don. Buổi lên sóng cuối cùng cho chương trình là ngày 8 tháng 9, 2007[2]

Vào ngày 21 tháng 7, 2010, Yesung đã cùng một thành viên trong nhóm là Leeteuk trở thành MC cho chương trình Love Pursuer của đài MBC. Một người phải chọn một ngôi sao khác làm mẫu người lý tưởng sau đó lên kế hoạch theo đuổi và sau một tuần, ngôi sao này sẽ phải đoán xem người hâm mộ bí mật của mình là ai. Chương trình đã mang đến rất nhiều điều thú vị cho khán giả.

Ngày 4 tháng 9, 2010, Yesung được chọn làm MC cho chương trình "MUZIT", một talk show về âm nhạc cùng với K.Will và nhạc sĩ kì cựu Yoo Youngsuk. Chương trình giới thiệu về các tài năng âm nhạc từ ngành công nghiệp âm nhạc Hàn Quốc.

Chương trình Radio[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày Tên Ghi chú
19 tháng 9, 2006–8 tháng 9, 2007 M.I.R.A.C.L.E for You Kết thúc ngay trước lễ kỉ niệm 1 năm
28 tháng 2, 2011–20 tháng 6, 2011 "Super Junior's Kiss the Radio" cùng với Leeteuk và thay thế tạm thời cho Eunhyuk

Chương trình truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày Tên chương trình Ghi chú
25 tháng 6, 2009–2009 꼿미남 포차 (Flower Boys' Carriage)
21 tháng 7, 2010–tháng 3, 2011 러브 추격자 (Love Pursuer) cùng Leeteuk
September 4, 2010–2011 MUZIT

Diễn xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Sự nghiệp diễn xuất của Yesung bắt đầu vào mùa hè năm 2007 với bộ phim điện ảnh Attack on the Pin-Up Boys (Tấn công trai đẹp), một bộ phim hài về sinh viên trường trung học với sự tham gia của gần như toàn bộ thành viên Super Junior (chỉ trừ Kyuhyun – người đang nằm viện sau vụ tai nạn nghiêm trọng của Super Junior ngày 19 tháng 4). Yesung đóng vai ngôi sao nhạc Rock của trường - người đã bị tấn công một cách bí ẩn, để rồi nhờ đó anh trở nên nổi tiếng trên tầm quốc gia.

Năm 2009, Yesung được chọn đóng vai Jung Myung-soo trong vở nhạc kịch Namhan san sung (Pháo đài núi Nam Hàn), được trình diễn từ ngày 9 tháng 10 đến ngày 4 tháng 11, 2009[3]

Anh cũng tham gia vở nhạc kịch Hong Gil Dong cùng với một thành viên trong nhóm là Sungmin từ ngày 18 tháng 2 đến 18 tháng 4, 2010. Cả hai đều đóng vai Hong Gil Dong, thể hiện những khía cạnh khác nhau của vị anh hùng này.

Cũng vào năm này, Yesung được chọn vào vai Hiệp sỹ Galahad trong vở nhạc kịch Spamalot công chiếu từ ngày 1 tháng 10 đến 28 tháng 12, 2010. Vở nhạc kịch này đã nhận được nhiều phản hồi tốt từ phía khán giả. Yesung cũng nói rằng anh rất có hứng thú với nhạc kịch vì đó là một thử thách mới đối với anh và anh hy vọng sẽ được đóng nhiều hơn trong tương lai.[4]

Phim tham gia[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên Vai Ghi chú
2007 Attack on the Pin-Up Boys
꽃미남 연쇄 테러 사건
Yesung phát hành giới hạn tại Hàn Quốc

Nhạc kịch[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày Tên nhạc kịch Vai diễn Ghi chú
9 tháng 10– 4 tháng 11, 2009 남한산숭 (Pháo đài núi Nam Hàn) 정명수 (Jung Myungsoo)
18 tháng 2– 18 tháng 4, 2010 홍길동 (Hong Gil Dong) Hong Gil Dong cùng Sungmin
1 tháng 10, 2010– 28 tháng 12, 2010 스팸어랏 (Spamalot) Sir Galahad, the Dashingly Handsome

Hát nhạc phim[sửa | sửa mã nguồn]

Yesung đã hát nhạc phim Tazza, một bộ phim có rating cao được khởi chiếu vào ngày 16 tháng 9, 2008. Bản ballad này - 사랑 참 아프다 (Love Really Hurts) - đã được sử dụng trong suốt bộ phim. Anh đã hát live bài này nhiều lần, kể cả trong Lễ kỷ niệm 3 năm của Super Junior. Vào ngày 6 tháng 11, 2009, anh thay thế Jonghyun của SHINee trong buổi diễn Ring Ding Dong do Jonghyun bị cúm A/H1N1.

Năm 2010, Yesung góp giọng trong soundtrack bộ phim "Cinderella's Sister" khởi chiếu từ ngày 31 tháng 3, 2010 với diễn viên chính là Moon Geun YoungTaecyeon của 2PM. Anh đã hát 너 아니면 안돼 (It has to be you). Bài hát này là một bản ballad kể về một chàng trai không quan tâm bất cứ cô gái nào khác, ngoại trừ người anh yêu. Trong lời chào kết thúc của Super Junior's 2nd Asia Tour Concert, Super Show 2 Manila, anh đã hát live bài hát này trên sân khấu và mong các fan sẽ ủng hộ các bài hát mới của anh. Sau đó vào ngày 4 tháng 6, 2010, Yesung đã lần đầu tiên biểu diễn solo trên khấu Music Bank bài hát It Has To Be You, bài hát đã đứng thứ hạng rất cao trên bảng xếp hạng của Music Bank.

Vào ngày 29 tháng 12, 2010, bản OST thứ 2 trong phim "President" của đài KBS đã được phát hành. Yesung đã cùng song ca với Luna của F(x) trong ca khúc And I love you. Ca khúc này đã giành được nhiều sự chú ý và ủng hộ từ công chúng.

Vào ngày 31 tháng 1, 2011, bài hát solo thứ 3 của Yesung lại là một bản OST trong bộ phim của đài SBS "Paradise Ranch" mang tên Waiting For You. Bài hát là một bản ballad nói về một chàng trai vẫn quyết tâm chờ đợi người yêu quay trở lại cho đến ngày tận cùng của thế giới. Bản thân bộ phim cũng đã nhận được nhiều sự chú ý nhờ sự tham gia của diễn viên Lee YeonheeDBSK Changmin. Yesung đã biểu diễn bài hát này lần đầu tiên tại Super Junior - K.R.Y the 1st concert in Seoul ngày 11 tháng 2, 2011.

Ngày Tựa đề Phim Ghi chú
2007 사랑 참 아프다 (Love Really Hurts) 타짜 (Tazza) bài hát solo và bài hát nhạc phim đầu tiên của anh
2010 너 아니면 안돼 (It Has To Be You) 신데렐라 언니 (Cinderella's Sister) bài hát nhạc phim hay nhất nhất 2010
2010 너를 사랑하고 (And I love you) 프레지던트 (President) song ca cùng Luna của F(x)
2010 널 기다리며 (Waiting For You) 파라다이스 목장 (Paradise Ranch)
2011 그대뒤에 있습니다 (I Am Behind You) song ca cùng Jang Hye Jin
2011 단 하루만 (One Day) 무사 백동수 (Warrior Baek Dongsoo)
2012 꽃보다 그녀 (She Over Flowers) 아이두 아이두 (I DO I DO)

Giải thưởng và đề cử[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm thông tin: Danh sách giải thưởng và đề cử của Super Junior
Năm Giải thưởng Đề cử Kết quả
2010 BGM Cyworld: Hall of Fame "It Has To Be You" Đoạt giải
2010 Cyworld Digital Music Awards: Bài hát của tháng (Tháng 4) "It Has To Be You" Đoạt giải
2010 25th Golden Disk Awards: Digital Bonsang "It Has To Be You" Đề cử
2010 25th Golden Disk Awards: Popularity Award "It Has To Be You" Đề cử
2010 2nd Melon Music Awards: Special Song OST Award "It Has To Be You" Đề cử
2011 Cyworld Digital Music Awards: Best OST Award "It Has To Be You" Đoạt giải

Đôi nét về Yesung[sửa | sửa mã nguồn]

  • Biệt danh: hoàng tử mây (Cloud Prince – do tên thật của anh ấy là Woon, có nghĩa là vân, mây)
  • Ngày sinh: 24 tháng 8 năm 1984
  • Chiều cao: 178 cm
  • Cân nặng: 64 kg
  • Nhóm máu: AB
  • Anh có những kiểu nhảy rất kì dị, khó ai có thể bắt chước được.
  • Anh nuôi rùa cho đỡ...chán nhưng anh nhận ra, ngắm rùa lại càng chán hơn!
  • Những con vật cưng của anh: Rùa Ddangkoma (nghĩa là bé nhỏ, dễ thương),Rùa ddangkomaeng, chó Kkoming, chó Melo
  • Anh ít khi nói nhưng đã nói là nói rất nhiều.
  • Anh là một người con rất hiếu thảo
  • Câu cửa miệng của anh là "hot or ice" vì nhà anh bán thức uống.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Album Sales of December 2005”. Recording Industry Association of Korea (bằng tiếng Triều Tiên). tr. 1. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2007. 
  2. ^ keiro.cafe24.com. Retrieved on September 4, 2007.[liên kết hỏng]
  3. ^ [1]. Retrieved on July 9, 2009.
  4. ^ [2]. Retrieved on Aug 31st, 2010.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Bản mẫu:Super Junior discography