Lee Sungmin

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Sungmin)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Sungmin
Sungmin 2011.jpg
Thông tin nghệ sĩ
Tên khai sinh Lee Sung-min
Sinh 1 tháng 1, 1986 (28 tuổi)
Ilsan, Goyang, Gyeonggi, Hàn Quốc
Nguyên quán Seoul, Hàn Quốc
Nghề nghiệp Ca sĩ, nhạc sĩ, vũ công, diễn viên, dẫn chương trình radio
Thể loại pop, dance, R&B, trot
Nhạc cụ Piano, guitar, guitar bass, trống
Năm 2005 đến nay
Hãng đĩa SM Entertainment
Hợp tác SM Town, Super Junior, Super Junior-T, Super Junior-Happy, Super Junior-M
Website min01.smtown.com
Lee Sungmin
Hangul 이성민
Hanja (Hán tự) 李晟敏/Lý Thịnh Mẫn
Romaja quốc ngữ I Seongmin
McCune-Reischauer I Sŏngmin

Lee Sung-min (이성민, Hán tự: 李晟敏/Hán Việt: Lý Thịnh Mẫn) sinh ngày 1 tháng 1 năm 1986, thường được biết đến với nghệ danh Sungmin, là một nam ca sĩ, nhạc sĩ, diễn viên Hàn Quốc thuộc nhóm nhạc nam Super Junior. Sungmin cùng với Hangeng là hai thành viên biết võ thuật của Super Junior và đôi khi còn trình diễn những bài múa võ trong những buổi biểu diễn của nhóm ngoài những điệu nhảy thông thường.[1].

Anh là một trong 4 giọng ca chính của Super Junior và những người nhảy tốt nhất của nhóm. Anh là một thành viên của phân nhóm Super Junior-T, Super Junior-Happy và gần đây trở thành thành viên mới của phân nhóm Super Junior-M cùng với Eunhyuk. Anh là một người nhạy cảm nhưng cũng mạnh mẽ, hơi nữ tính nhưng lại cũng khá manly, vừa sexy lại vừa vô cùng dễ thương. Fan thường gọi anh là danhobak (Tiếng Hàn: 단호박) có nghĩa là Bí ngọt (hay Sweet Pumpkin), hoặc Aegyo King do khuôn mặt mang nét trẻ con và vẻ bề ngoài dễ thương của anh.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Sungmin sinh ra ở quận Ilsan, Goyang, Gyeonggi. Anh có một em trai là Lee Sungjin.[2] Năm 2001, anh tham gia cuộc thi SM Youth Best Contest và đạt giành giải nhất cho Ngoại hình đẹp nhất với bạn cùng nhóm Donghae. Tiếp đó, cả hai gia nhập SM Entertainment và được đào tạo bài bản về thanh nhạc, vũ đạo và diễn xuất.

Năm 2002, Sungmin được đề cử vào dự án R&B với Xiah Junsu và một thành viên Eunhyuk. Cùng với Typhoon, Rose và Attack, sáu người đã xuất hiện lần đầu trên truyền hình trong một show có tên "Heejun vs. Kangta, Battle of the Century: Pop vs. Rock". Moon Hee-jun dạy Typhoon, Rose, và Attack cách hát rock cho đúng trong khi Sungmin, Junsu và Eunhyuk được Kangta dạy cho các kĩ thuật hát khác. Một năm sau, 6 người đã bị tách ra khi Typhoon, Rose, và Attack đã ra mắt trong rockband TRAX còn Xiah thì ra mắt cùng TVXQ. Sungmin và Eunhyuk đã cùng 10 học viên khác thành lập nên nhóm Super Junior 05, thế hệ đầu của ban nhạc dự án Super Junior. Ngay trước khi Super Junior chính thức ra mắt, Sungmin đã xuất hiện trên truyền hình với một vai phụ trong bộ phim Sisters of the Sea (vai Kang Dong-shin thời trẻ) của đài MBC.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Super Junior[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm: Super Junior

Super Junior 05 chính thức ra mắt ngày 6 tháng 11, 2005 trên chương trình âm nhạc Inkigayo của đài SBS, trình diễn single đầu tay "TWINS (Knock Out)". Màn trình diến ra mắt đã thu hút được trên 500 fan và cả những khán giả từ Trung Quốc, Nhật Bản. Album đầy đủ được phát hành một tháng sau đó đã giành vị tí thứ 3 trên bảng xếp hạng album K-pop hàng tháng MIAK.[3]

Vào tháng 3, 2006, SM Entertainment bắt đầu tuyển thành viên cho Super Junior 06. Tuy nhiên kế hoạch thay đổi khi công ty thêm vào nhóm thành viên thứ 13 Kyuhyun và tuyên bố ngừng hình thành các thế hệ Super Junior tương lai. Nhóm đã bỏ hậu tố "05", chính thức trở thành Super Junior. Nhóm mới gồm 13 người này đã giành thắng lợi lớn sau khi phát hành CD single đầu tiên "U" vào mùa hè 2006 - CD single thành công nhất của họ cho đến khi "Sorry, Sorry" ra mắt vào tháng 3, 2009.

Sungmin được đặt vào 3 phân nhóm của Super Junior: Tháng 2, 2007, anh cùng 5 thành viên khác được xếp vào phân nhóm thứ hai, Super Junior-T, chuyên hát những bài nhạc Trot. Và một năm sau, tháng 5 năm 2008, anh tham gia vào phân nhóm thứ 4, Super Junior-Happy. Bắt đầu từ tháng 8, 2010, Sungmin cùng với Donghae đã tham gia vào chuyến lưu diễn của phân nhóm Super Junior-K.R.Y, Super Junior-K.R.Y live concert với tư cách khách mời. Tháng 2, 2011, anh và thành viên Eunhyuk lại được tham gia vào mini album mới Perfection của phân nhóm Super Junior-M, thay thế thành viên người Trung Quốc Hangeng đã rời nhóm để tập trung vào các hoạt động solo.

Cho đến nay, anh đã tham gia đầy đủ 5 album phòng thu của Super Junior, 3 mini album của các phân nhóm Super Junior-T, Super Junior-HappySuper Junior-M. Anh cũng tham gia đầy đủ trong 3 chuyến lưu diễn vòng quanh châu Á Super Show 1, 2 và 3 của nhóm, tham gia Live concert của phân nhóm Super Junior KRY và sẽ còn tiếp tục tham gia trong chuyến lưu diễn thế giới Super Show 4 World Tour cùng Super Junior, đã bắt đầu khởi động từ ngày 19, 20 tháng 11, 2011 tại sân vận động Gymnastics thuộc Olympic Park, thành phố Seoul. Ngoài ra anh cũng tham gia vào concert chung của đại gia đình SM, SM Town Live Concert đã tổ chức thành công ở nhiều thành phố lớn trên thế giới như Los Angeles, Paris, New York, Tokyo

Sáng tác[sửa | sửa mã nguồn]

Trong album Vol. 3 Sorry, Sorry, Sungmin đã cùng thành viên Ryeowook sáng tác ca khúc Love you more. Anh có khả năng chơi nhiều loại nhạc cụ, đặc biệt là guitar. Ngoài ra còn có piano, harmonica, xyclophone…

Diễn xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Sungmin đã đóng vai Kang Dong-shin thời trẻ trong bộ phim Sisters of the sea vào năm 2005 ngay trước khi Super Junior ra mắt. Năm 2006, anh tham gia series phim Banjun Theater (thuộc đài SBS) của TVXQ trong tập phim có tên Finding Lost time với tư cách khách mời, đóng vai người bạn thời phổ thông của Micky Yoochun. Vai diễn lớn đầu tiên của anh là trong bộ phim điện ảnh Attack on the Pin-up boys (Tấn công trai đẹp) cùng Super Junior do hãng SM Pictures sản xuất và được trình chiếu lần đầu vào tháng 7, 2007. Anh đóng vai anh chàng đẹp trai đầu tiên trong số những anh chàng đẹp trai bị tấn công bởi một kẻ giấu mặt. Đầu năm 2008, Sungmin lại tham gia vào một bộ phim ngắn khoảng 30 phút của Super Junior có tên Super Junior Unbelievable Story cùng với Leeteuk. Anh đóng vai chính mình, một thành viên của nhóm nhạc nổi tiếng Super Junior-T, người thường phải chịu cái bóng của các thành viên khác trong nhóm. Tháng 12, 2010, sau 5 năm ra mắt bộ phim truyền hình đầu tiên, Sungmin lại tham gia vào một bộ phim truyền hình của đài KBS có tên President, đóng vai Jang Sungmin, con trai thứ của nghị sĩ Jang Iljoon - một ứng cử viên tranh cử ghế Tổng thống Hàn Quốc. Bộ phim dài 24 tập và bắt đầu khởi chiếu từ ngày 15 tháng 12, 2010.

Năm 2009, anh tham gia vào vở nhạc kịch Akilla và đóng vai chính Ro. Năm 2010, anh tham gia vào vở nhạc kịch thứ hai của mình, Hong Gil Dong cùng với một thành viên trong nhóm là Yesung từ ngày 18 tháng 2 đến 18 tháng 4, 2010. Cả hai đều đóng vai Hong Gil Dong, thể hiện những khía cạnh khác nhau của vị anh hùng này. Năm 2011, anh đảm nhận vai Daniel trong vở nhạc kịch thứ ba, Jack the ripper từ 5 tháng 7 cho tới ngày 14 tháng 8 tại Hội trường Nhà hát Nghệ thuật Chungmu, Seoul.

Dẫn chương trình[sửa | sửa mã nguồn]

Sungmin thay thế Kangin, một thành viên cùng nhóm, làm một trong những DJ chủ chốt của Reckless Radio và cùng dẫn với Sooyoung của Girls' Generation (SNSD) vào nửa cuối năm 2007. Vào ngày 3 tháng 2, 2008, Sooyoung được thay thế bởi Sunny, một thành viên khác của Girls' Generation. Chương trình kết thúc vào cuối tháng 7, 2008.

Hoạt động khác[sửa | sửa mã nguồn]

Vào tháng 10, 2010, Sungmin là một trong số 20 ca sĩ thần tượng từ những nhóm nhạc khác nhau của Hàn Quốc cùng thu âm ca khúc Let's go để chào mừng hội nghị thượng đỉnh G20 diễn ra tại Seoul, Hàn Quốc. Anh đã cùng tham gia với các đàn em trong SM EntertainmentSeohyun, JonghyunLuna.[4]

Mạng xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

Bắt đầu từ tháng 4 năm 2011, có một tài khoản twitter với ID @Mystericsmile xuất hiện nhưng mãi đến ngày 9 tháng 8 các fan mới biết đến tài khoản này khi nó được một thành viên của Super Junior là Siwon follow. Mọi người đã cho rằng đây là tài khoản twitter chính thức của Sungmin. Nhưng vài ngày sau đó, em trai của Sungmin là Lee Sungjin đã đưa ra thông báo rằng anh trai của anh chẳng hề có tài khoản twitter nào cả, địa chỉ @Mystericsmile đó hoàn toàn là giả. Anh cũng nói thêm đó là lý do tại sao anh trai mình không thích Twitter.

Trước đó, vào năm 2010 thì Sungmin đã từng có một tài khoản twitter là @myblacksmile nhưng anh đã tự xóa bỏ nó chỉ sau vài tháng sử dụng, thậm chí anh cũng xóa bỏ cả Cyworld của mình. Hiện nay anh đang sử dụng me2day và Naver blog để update tin tới các fan với tên account là #ittiban (tiếng Nhật, có nghĩa là "người giỏi nhất").

Đĩa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Singles và nhạc phim[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tựa đề Bài hát Định dạng Nghệ sĩ Ghi chú
2007 Student's Cheer song 소중한 열매 (Power) Digital Single Sungmin feat. CSJH Dana/Lina
2007 Homicide Investigation Team OST 히트 (H.I.T) OST KRY, Kangin, Sungmin, Donghae
2008 SJ-T Rokkuko album
Japanese ver
Asita No Tameni 明日のために (For Tomorrow) Track Sungmin feat. Japanese duo Moeyan
ソンミン(SuperJunior-T×モエヤン)
2008 Sanggeunie's Hope album Jiguem Mannaro Gayo 지금 만나러 가요
(Now We Go to Meet)
Track Yesung, Sungmin viết lời bởi Leeteuk, Sungmin
2010 Haru OST Angel OST Sungmin, Eunhyuk, Donghae, Ryeowook, Kyuhyun
2010 KBS2TV President OST 입술을 깨물고 (Biting my Lips) OST Sungmin, Ryeowook, Kyuhyun Sungmin đóng trong phim

Phim, nhạc kịch đã tham gia[sửa | sửa mã nguồn]

Phim điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tựa đề Vai diễn Ghi chú
2007 Attack on the Pin-Up Boys
(Tấn công trai đẹp)
Sungmin phát hành giới hạn tại Hàn Quốc

Phim truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tựa đề Vai diễn Kênh Ghi chú
2005 Sisters of the Sea Kang Dong-shin thời trẻ MBC (Tập 1 ~ 60)
2005 Charnel House Boy
một cầu thủ bóng chày thời trẻ KBS 1 tập
2006 Finding Lost Time Bạn của Micky Yoochun SBS 1 tập
2008 Super Junior Unbelievable Story Sungmin MBC một tập[5]
2010 President Jang Sungmin KBS 16 tập

Nhạc kịch[sửa | sửa mã nguồn]

STT Tựa đề Vai diễn Thời gian Ghi chú
1 Akilla Ro 2009 Vai chính
2 Hong Gil Dong Hong Gil Dong 18 tháng 2 đến 18 tháng 4, 2010 Vai chính, đóng cùng thành viên Yesung
3 Jack the Ripper Bác sĩ - thám tử Daniel 5 tháng 7 đến 14 tháng 8, 2011 Vai chính, diễn cùng thời gian với nhạc kịch của KyuhyunRyeowook

Xuất hiện trong các Music Video[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Bài hát Nghệ sĩ Vai diễn
2009 S.E.O.U.L MV Super JuniorGirls' Generation Phóng viên ảnh
2010 World Cup
Victory Korea
Super Junior-Happy Sungmin
2010 G20 Seoul Summit
Let's Go
2010 G20 Seoul summit Sungmin

Chương trình truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Kênh Tên chương trình Ghi chú
2007 MNET Hello Chat Làm VJ với Shindong
2007 MNET Idol World MC thường xuyên, cùng SJ-T
2008 MBC Idol Army Season 1 MC thường xuyên, cùng SJ-H
2008 MBC Unbelievable Outing Season 3 Với Leeteuk, Shindong, Eunhyuk, Donghae, YesungKangin
2009 KBS Miracle Show Với Leeteuk, Shindong, EunhyukKangin
2009 KBS Intimate Note Ep. 24 & 25. cùng Super Junior
2009 MBC Oppa Band MC thường xuyên
Vocalist/Guitarist. Cùng TRAX Jungmo
2011 SBS Happy Together Season 3 Ep. 176.

2012 KBS Kiss the radio DJ cùng với Ryeowook

Dẫn chương trình Radio[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày Tên Ghi chú
4 tháng 6, 2007 –3 tháng 2, 2008
3 tháng 2, 2008 – 30 tháng 7, 2008
Chunji Reckless Radio (천방지축 라디오) với Sooyoung
với Sunny
23 tháng 11, 2011 đến nay Super Junior Kiss the Radio (Sukira) với Ryeowook
(thay thế LeeteukEunhyuk)

Đôi nét về Sungmin[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tên: Lee Sung-min
  • Ý nghĩa: ánh sáng rực rỡ
  • Biệt danh: Bí ngọt (do anh rất thích ăn món bí đỏ ngọt), Aegyo King, Thỏ hồng (anh thích màu hồng)
  • Chiều cao: 1,75 m
  • Nhóm máu: A
  • Vị trí: hát chính, nhảy chính
  • Sở thích: xem phim, tập võ, chơi nhạc cụ
  • Sở trường: hát, diễn xuất, võ thuật Trung Quốc (đặc biệt là côn nhị khúc), biểu diễn nhạc cụ. Anh bắt đầu tập võ khi lên trung học
  • Những thông tin khác:
    • Trước khi TVXQSuper Junior ra mắt, Sungmin cùng với Eunhyuk và Xiah Junsu (TVXQ) được SM Entertainment sắp xếp thành nhóm tam ca R&B tên Daeneb, nhưng kế hoạch này cũng không thành.
    • Học vấn: Anh đã tốt nghiệp Đại học nghệ thuật Seoul - Khoa phát thanh truyền hình (Trong chương trình phát thanh Super Junior Kiss The Radio phát sóng ngày 30 tháng 11, 2011, anh đã nói rằng ngày hôm trước, 29 tháng 11, khi Super Junior đang ở Singapore để tham dự lễ trao giải MAMA thì anh vẫn cố gắng làm xong bài thi cuối cùng và gửi qua mạng cho thầy cô của mình).
  • Sungmin đã ở cùng phòng với KyuHyun được khoảng 6 năm, lúc đầu hai người ngủ 2 giường đơn nhưng sau đó vì muốn rộng hơn 2 người đã đổi thành 1 chiếc giường đôi.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ KBS Artist Search - Super Junior
  2. ^ Super Junior's Official Site
  3. ^ “Album Sales of December 2005”. Recording Industry Association of Korea (bằng tiếng Triều Tiên). tr. 1. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2007. 
  4. ^ “20 idol singers unite to sing the G20 Seoul Summit theme song”. allkpop.com. 30 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2010. 
  5. ^ (tiếng Triều Tiên) Gamespot.com. SuJu's Leeteuk, Sungmin show's idol talent - first lead roles March 19, 2008. Retrieved March 19, 2008.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]